Minh triết Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 07/10/2026 Lượt xem: 72
Mặc định Cỡ chữ

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH

HOÀNG CHÍ BẢO

GS.TS. Hội đồng Lý luận Trung ương

 

Minh triết Hồ Chí Minh có quan hệ với tư tưởng và triết lý của Người. Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng kiệt xuất, nhà mác-xít sáng tạo đầy bản lĩnh của Việt Nam. Tư tưởng của Người đồng thời là phương pháp và định hình thành phong cách. Tư tưởng của Người còn thấm nhuần một triết lý - triết lý nhân sinh và hành động, triết lý về đạo làm người, sống ở đời, tất cả đều hướng tới dân và vì dân. Nhà tư tưởng mác-xít hiện đại và mang tầm vóc thời đại nhưng lại biểu hiện ra trong suy tư và cảm xúc, trong nhận thức và hành động, trong ứng xử với tự mình, với người, với việc luôn thấm nhuần những chuẩn mực văn hoá, thấu lý đạt tình, mang cốt cách hiền triết Á Đông, đậm bản sắc Việt Nam. Làm chủ tình thế, vượt lên hoàn cảnh, dằn vặt lớn và đau khổ lớn về muôn nỗi thống khổ của nhân dân và số phận của dân tộc trong tình cảnh nô lệ, nước mất nhà tan đã thôi thúc Người tìm đường cứu nước với khát vọng mãnh liệt về tự do, về giải phóng. Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, đồng thời giải phóng xã hội và giải phóng con người, tiến tới xã hội tương lai cộng sản chủ nghĩa bằng con đường cách mạng. Tiến trình ấy cũng bao hàm trong đó giải phóng giai cấp công nhân. Điều đặc biệt quan trọng là, Hồ Chí Minh luôn chú trọng giải quyết các mối quan hệ giải phóng dân tộc - xã hội và con người trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân. Đó là ý thức hệ giai cấp công nhân hiện đại, khoa học và cách mạng, vượt qua ý thức hệ phong kiến và tư sản lỗi thời. Đặt dân tộc và giải phóng dân tộc trên nền tảng giai cấp và giai cấp công nhân, thấy sức mạnh của mình trong sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Cho nên chủ nghĩa dân tộc chỉ có sức mạnh thúc đẩy và trở thành một động lực phát triển khi nó gắn liền với sức mạnh thời đại, sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước gắn liền với sức mạnh của chủ nghĩa quốc tế. Đó thực sự là một quan niệm khoa học, rành mạch, tường minh của Người phù hợp với thời đại, với thế giới đang biến đổi.

Bằng cách đó, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công trong lý luận và trong thực tiễn cách mạng Việt Nam mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chỉ ra con đường cách mạng, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc Việt Nam trong thời đại mới - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội được mở ra từ thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong tư tưởng này của Hồ Chí Minh có hai điểm nổi bật cần được nhận thức đúng.

Thứ nhất, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đối với dân tộc Việt Nam có nghĩa là Việt Nam sẽ lựa chọn con đường phát triển quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Giải phóng để phát triển và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đảm bảo cho công cuộc giải phóng đó của dân tộc đi tới triệt để, đầy đủ và chắc chắn nhất. Cũng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là con đường, phương thức phát triển tích cực, tốt đẹp, có triển vọng nhất đối với dân tộc Việt Nam. Con đường và phương thức phát triển ấy do thời đại mở ra, là đòi hỏi tất yếu, là quy luật khách quan của lịch sử mà Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được nhờ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cách mạng Tháng Mười Nga - một cuộc cách mạng đến nơi (tức là triệt để) và chủ nghĩa Mác-Lênin - chủ nghĩa mà Người đánh giá rằng chân chính nhất, cách mạng nhất. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Lênin cũng có nghĩa là chủ nghĩa Mác-Lênin. Sau khi đã nghiên cứu, khảo duyệt rất nhiều chủ nghĩa, học thuyết, lý thuyết khác nhau, Người đã quyết định lựa chọn và tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là luận cương của Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc. Người thấy ở đó câu trả lời chính xác cho câu hỏi mà Người đã dằn vặt từ bấy lâu nay trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Người đã nhận ra từ ánh sáng tư tưởng Lênin, đây là con đường giải phóng chúng ta, cứu sống chúng ta, là cẩm nang soi sáng con đường chúng ta đi. Người cũng đánh giá rằng, tư tưởng của Mác, chủ nghĩa Mác chứa đựng điều quý giá nhất, đó là phép biện chứng của phát triển. Học thuyết giải phóng của Hồ Chí Minh là một học thuyết giải phóng để phát triển, nhận thức khoa học về thế giới để cải tạo thế giới đó bằng cách mạng, đưa con người từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ để đạt tới hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội đưa con người và xã hội loài người tới mục tiêu đó. Đây cũng chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cách mạng. Đã tin bằng một niềm tin khoa học, bằng sự nghiền ngẫm, quan sát, trải nghiệm trực tiếp từ thực tiễn lao động và tranh đấu thì phải suốt đời giữ vững niềm tin đó, theo đuổi đến cùng, phấn đấu hy sinh đến cùng cho độc lập tự do của dân tộc, cho cuộc sống tự do, địa vị làm chủ và đời sống hạnh phúc của nhân dân, xây dựng một xã hội trong đó nhân dân là chủ, bao nhiêu lợi ích đều thuộc về dân, bao nhiêu quyền hành đều là của dân. Người thấy rõ bản chất sâu xa nhất của chủ nghĩa xã hội (CNXH) là quyền làm chủ của nhân dân.

Phải “giữ chủ nghĩa cho vững”, phải “làm cách mạng đến nơi”, cách mạng rồi, “quyền giao cho dân chúng số nhiều” “chớ để trong tay một bọn ít người”, “thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” (1). Đó là những điểm nhấn mạnh trong suy nghĩ thường trực của Người. Ở đây, Người đã cảm nhận và tiên liệu trước nguy cơ thoái hoá của cách mạng, sự tha hoá của quyền lực một khi quyền không ở trong tay dân chúng, không được quần chúng giám sát và kiểm soát.

Tư tưởng về quyền lực của dân, hạnh phúc của dân là điểm cốt yếu trong tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là bản chất dân chủ và nhân văn trong tư tưởng và đường lối chính trị của Người. Tư tưởng ấy là một tư tưởng minh triết, là minh triết Hồ Chí Minh về chính trị.

Thứ hai, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH muốn thực hiện được ở Việt Nam thì phải làm cách mạng. Đó là sự chuyển hoá, biến đổi. “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” (2). “Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ, cách mạng phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, cách mệnh phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân, cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh”… (3). “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi… Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” (4).

“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (5).

Nguyễn Ái Quốc đã viết như vậy trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, từ khi Đảng chưa ra đời. Đó thực sự là những quan niệm, những luận điểm khoa học và cách mạng ở trình độ thành thục, chín muồi, nội dung sâu sắc trong một hình thức giản dị…. Tư tưởng phong phú, nhiều ý nghĩa nhưng cô đọng, hàm xúc, nổi bật những kết luận khẳng định về Đảng và ý thức hệ của Đảng - một Đảng chân chính cách mạng của giai cấp công nhân và của dân tộc để lãnh đạo toàn dân làm cách mạng, thực hiện lý tưởng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Trong những luận điểm tư tưởng đó ta thấy rõ tư duy biện chứng, quan điểm thực tiễn, đổi mới và phát triển của Người, thấy cả phương pháp và phương châm hành động, cả niềm tin theo đuổi những giá trị được lựa chọn. Chung đúc, tổng hợp tất cả những cái đó ta thấy minh triết Hồ Chí Minh, minh triết về cách mạng và Đảng cách mạng. Như vậy, minh triết Hồ Chí Minh toát lên từ tư tưởng và triết lý của Người, thể hiện thành phương pháp và định hình trong phong cách Hồ Chí Minh. Trong cốt cách hiền triết Á Đông và đậm bản sắc dân tộc Việt Nam của Người toát lên một tinh thần minh triết, minh triết trong tư tưởng, minh triết trong đạo đức và thực hành đạo đức, minh triết trong đường lối và phương pháp chính trị với tầm nhìn chiến lược, với bản lĩnh sáng tạo vượt qua lối cũ đường mòn, khai phá cái mới và quyết tâm đổi mới. Người còn minh triết trong lối sống, đời sống hàng ngày bằng sự nêu gương và sự tinh tế trong ứng xử. Tất cả tạo thành văn hoá Hồ Chí Minh.

Minh triết làm nên vẻ đẹp lấp lánh trong văn hoá ấy, nó vừa hiển hiện (hiển ngôn) lại vừa uẩn tàng (vô ngôn) trong văn hoá ấy, nhờ đó, Hồ Chí Minh - một con người, một cuộc đời, một sự nghiệp, một dân tộc và một thời đại đã gắn kết lại, hài hoà, nhuần nhuyễn, trong một chỉnh thể trọn vẹn, toàn vẹn làm nên giá trị, ý nghĩa, sống mãi với thời gian.

Cá thể thì hữu hạn nhưng nhân loại là vô cùng. Nhân dân và dân tộc mãi mãi trường tồn dù cho lịch sử biến đổi thăng trầm.

Tổ quốc là thiêng liêng trong máu thịt mỗi người, bởi Đất và Nước, Đất và Người làm nên sự sống. Thế giới nhân loại thống nhất trong đa dạng và khác biệt nhưng Hoà bình - Tự do và Hạnh phúc là khát vọng của muôn đời, là những giá trị phổ biến toàn cầu. Thể hiện khát vọng ấy, đấu tranh, hy sinh và dâng hiến cả đời mình cho những giá trị ấy - đó là sự nghiệp của những vĩ nhân. Hồ Chí Minh ở trong cuộc sống của dân, trong lòng nhân dân và dân tộc mình và vì thế Người cũng đồng hành cùng thế giới và sống mãi trong trái tim nhân loại. Minh triết Hồ Chí Minh vừa phản ánh vừa góp phần làm thăng hoa những giá trị minh triết ở đời và làm người.

Từ những cảm nhận nêu trên về tư tưởng và tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh cần phải cắt nghĩa thế nào là minh triết?

Lại một câu hỏi khác được đặt ra, trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều có thể có minh triết, đạt tới minh triết hay minh triết chỉ thể hiện ở số ít những người có trí tuệ thông thái, trác việt, những người có đạo đức, phẩm hạnh cao quý thuộc về tầng lớp tinh hoa?

Minh triết có quan hệ rất gần gũi, mật thiết với triết học và triết lý, tức là gắn liền với tư tưởng, với những khái quát hoá dưới dạng các mệnh đề, các luận đề và luận điểm bàn về bản thể và nhận thức cái bản thể của con người, cũng đồng thời là tự nhận thức, khám phá cái chủ thể là chính mình. Đó là quan niệm, quan điểm thế giới quan được trình bày, phân tích luận lý mang tính trừu tượng hoá khoa học bậc cao mà cũng có thể là những cảm nhận, cảm tính trực tiếp mang tính thuần phác, hồn nhiên nhưng về căn bản là chân thực, đúng đắn như trong chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện chứng ngây thơ thời cổ đại Hy Lạp. Có triết học thế giới quan mà cũng có triết học nhân sinh quan nữa, nó bàn về quan niệm nhân sinh, về lẽ sống ở đời và lối sống được lựa chọn với những giá trị, những chuẩn mực và quy tắc ứng xử cho hành vi. Theo đó, nhân sinh quan là địa hạt của triết học đạo đức, nó rất gần, thậm chí trong không ít trường hợp nó dường như trùng hợp với triết lý đạo đức và minh triết đạo đức.

Dù khác nhau khi phân tích về tính chất, đặc điểm biểu hiện và các cấp độ (gắn với hoạt động và chủ thể) nhưng cả triết học lẫn triết lý và minh triết, rốt cuộc đều có chung một cội nguồn, ấy là cuộc sống, là đời sống hiện thực, là thực tiễn. Ngọn nguồn xuất phát của mọi tri thức, tư tưởng, quan niệm và kinh nghiệm đều từ thực tiễn mà ra.

Ở các triết gia, không phải mọi tư tưởng triết học của họ đều chuyển thành triết lý và đều mang ý nghĩa minh triết. Đây không phải là những cung bậc cao thấp mà là những phương thức khác nhau, những định hướng khác nhau của sự tự thể hiện, tự biểu hiện của các chủ thể.

Triết học đào sâu vào lý trí, vào duy lý, với sự tham dự của tri thức và trí tuệ.

Triết lý thiên về sự suy ngẫm, khám phá thế giới nội tâm, tổng kết việc đời, việc người, đưa ra những lời khuyên và tự khuyên mình về ứng xử, về đạo đức trong ứng xử. Trong triết lý, nhất là triết lý dân gian có không ít những sáng láng của trí tuệ, của nhận thức lý trí nhưng nét nổi trội của nó là những tổng kết, đúc rút từ kinh nghiệm của hoạt động sống trực tiếp, những nếm trải, những sự trải nghiệm trực tiếp, khái quát thành những châm ngôn, những quy tắc xử thế trong các mối quan hệ ở đời. Minh triết, mỗi tư tưởng minh triết, mỗi quan niệm sống minh triết và mỗi ứng xử minh triết ở người có minh triết được biểu hiện ra trong sự hài hoà giữa lý và tình. Hồ Chí Minh tiêu biểu cho sự hài hoà đó.

Đó là lý trí và cảm xúc, là trí tuệ và tình cảm, trong con người và cuộc sống của Hồ Chí Minh ở mọi cung bậc, vị thế, từ lãnh tụ của Đảng, của dân, từ nguyên thủ quốc gia đến chính khách, yếu nhân trong quan hệ quốc tế với trí tuệ mưu lược, sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng cùng những mẫu mực văn hoá trong ứng xử. Con người Đại Trí, Đại Nhân, Đại Dũng ấy, vĩ đại mà vô cùng giản dị giữa đời thường trong lời ăn tiếng nói với dân, trong cử chỉ khoan hoà độ lượng, ân cần, thân thiết, không có khoảng cách xa. Tất cả đều diễn ra tự nhiên, chân thành. Với dân, ở tất cả mọi đối tượng, từ em nhỏ đến cụ già, từ nông dân trên đồng ruộng, công nhân trong xưởng máy, chiến sĩ trên thao trường, cho đến trí thức, nhân sĩ, nhà văn nhà báo và các văn nghệ sĩ nói chung, cho đến thanh niên và phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, các nhà tu hành - đạo Phật cũng như Thiên Chúa, cán bộ đảng viên, công chức... những ai đã đến bên Người đều thấy như được động viên, an ủi, tiếp thêm sức mạnh. Hiếm có ai trên đời này được sống trong niềm tin và tình thương yêu tuyệt đối của dân như Hồ Chí Minh.

Chỉ một tiếng “Bác Hồ” mà mọi người cùng gọi, kể cả bạn bè quốc tế đã nói lên điều đó. Giải thích về hiện tượng văn hoá kỳ diệu này, Minh Huệ đã nói một điều tưởng như không có gì mà hoá ra có tất cả, sự thật ấy như một lẽ thường tình, “Bác là Hồ Chí Minh”. Vậy là Hồ Chí Minh đã ở trong nhân gian, trong dân gian, bền bỉ, sâu lắng. Được như vậy là vì Người là một minh triết, Người kết tinh, nâng cao và toả sáng trí tuệ của dân, tâm hồn, tình cảm của dân, tinh thần dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước và con người.

Minh triết còn đi vào quan niệm của Hồ Chí Minh về CNXH, về một CNXH thật sự Việt Nam. Phải nghiền ngẫm, suy tư sâu sắc như thế nào để rồi Người đưa lại một nhận xét, một phát kiến. Theo Người, CNXH Việt Nam là vừa có lý vừa có tình. Lý ở đây là quy luật, là khoa học. Tình ở đây là chất nhân văn, nâng niu giá trị con người. Tin tưởng sâu sắc điều đó, Người mới nói: CNXH cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận. Và, không có chế độ nào tôn trọng con người, quan tâm tới con người (những cá nhân, nhân cách) như chế độ xã hội chủ nghĩa. Khẳng định này hợp thành từ niềm tin, khát vọng, mong mỏi và nỗ lực hết mình để thực hiện. Thực tế có thể chưa hoàn toàn đạt được như vậy, thậm chí, lúc sinh thời Người còn phải bận tâm, lo lắng về không ít những trường hợp sai trái, hư hỏng, công việc thì bê trễ, kỷ luật thì lỏng lẻo, thể chế thì không nghiêm, không ít người có chức quyền rồi thì xa dân và khinh dân, dân chủ biến thành “quan” chủ, làm đầy tớ công bộc của dân nhưng lại lên mặt “quan” cách mạng. Không để những sai trái này làm hỏng CNXH, mất lòng tin của dân nên vào lúc cuối đời Người đã nhấn mạnh phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng. Trong di chúc, Người cân nhắc mọi lẽ, nghiền ngẫm từng ý từng lời, sửa chữa từng câu từng chữ suốt 4, 5 năm liền với 1.000 từ để, “trước hết nói về Đảng” và “công việc đầu tiên là công việc với con người”. Nếu chỉ xét trên phương diện văn phẩm và bằng phương pháp phân tích văn bản học thì Hồ Chí Minh có rất nhiều bài viết, bài nói, chính luận và trữ tình, văn xuôi và thơ thấm thía về minh triết nhưng tiêu biểu và tập trung nhất là minh triết Hồ Chí Minh trong di chúc. Di chúc sâu sắc và cảm động vô cùng, bởi đây là chiêm nghiệm và tổng kết cả một cuộc đời. Nét chủ đạo trong Di chúc là niềm tin, là lạc quan, là trù liệu công việc trong tương lai đang đến rất gần, là tình thương yêu, ân cần, chu đáo, không quên một ai, không sót một việc nào, từ lớn đến nhỏ mà Người nhắn gửi, dặn dò mỗi chúng ta trước lúc đi xa. Song trong từng trang từng dòng di chúc ta vẫn thấy canh cánh trong lòng Người nỗi chờ mong, thương nhớ miền Nam. Tin chắc chắn rằng, cách mạng sẽ thắng, miền Nam sẽ hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc sẽ thống nhất nhưng trong sâu thẳm của lòng mình, Người vẫn đau, một nỗi đau nhân thế khi không được tận mắt chứng kiến ngày toàn thắng. Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi - Người đã nói như vậy. Câu nói ấy không chỉ đem lại niềm an ủi lớn đối với đồng bào miền Nam, mà còn làm xúc động muôn triệu trái tim đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Nỗi niềm thương nhớ, chờ mong đồng bào miền Nam của Người khắc khoải theo chuỗi thời gian ngày, giờ, năm, tháng, cả trong bữa ăn, cả trong giấc ngủ. Ta đọc Di chúc để cảm nhận thấy tâm trạng và nỗi thổn thức của Người, “Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam” (6).

Đây là bản đầu tiên Người viết, ngày 15 - 5 - 1965, lúc Người 75 tuổi. Người tự đánh máy và gạch dưới cụm từ “cho đồng bào miền Nam” (7).

Đến năm 1968, khi đã 78 tuổi, Người tiếp tục cân nhắc, sửa chữa và bổ sung bản Di chúc.

Tự tay mình Người đã viết những dòng này: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là hoả táng. Tôi mong rằng, cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện thì điện táng càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. 1 hộp cho miền Bắc, 1 hộp cho miền Trung. 1 hộp cho miền Nam…” (8). Vậy là Người cố đợi, gắng sức đợi chờ cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Trong những nỗi đau của Người, ta còn thấy Người đau lòng vì sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em. Người căn dặn Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các Đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình. Người cũng tin chắc rằng, các Đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại (9).

Trong Di chúc, ở phần nói về việc riêng, Người đã viết:

“Suốt đời tôi hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa….” (10).

Viết những dòng này cũng như viết và sửa nhiều lần toàn bộ bản Di chúc, Hồ Chí Minh dù tuổi đã cao, sức đã yếu vẫn minh mẫn, sáng suốt, dành tất cả trí tuệ, tâm huyết và tình thương yêu cho đời và cho người, cho nhân dân, dân tộc và nhân loại. Ngay “việc riêng” như Người viết cũng không còn là việc riêng của Người nữa. Người chỉ nghĩ đến dân, quên mình đi để hoá thân vào dân, chỉ một nỗi khát khao và mong ước được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sống chết cũng là quy luật của muôn đời, với tất cả mọi người. Phải chấp nhận cái hữu hạn ấy nên nỗi khát khao, mong muốn của Người - như đã nói - trở thành niềm nuối tiếc. Trong tâm sự của Người, ta nhận ra, nỗi đau, đau lòng vô hạn của Người vừa được nén lại, giấu kín đi để không đau người khác - ở đây là nhân dân, đồng bào mình, nhất là với miền Nam đang ở đầu sóng ngọn gió, nhưng cũng vừa được mở ra, bộc bạch chân thành, thẳng thắn khi Người nói về sự bất hoà giữa các Đảng, các nước anh em.

Những sắc thái và cảnh huống khác nhau này, Người đã cân nhắc nhiều lắm để viết ra. Chỉ có thể hiểu và cảm về Hồ Chí Minh với những gì làm nên sự vĩ đại và cao thượng của Người khi ta cố tìm cách đọc đúng Hồ Chí Minh. Sao lại như vậy? Đã không ít người nghĩ rằng, Hồ Chí Minh giản dị đến thế, ai cũng hiểu những gì Người viết, Người nói. Điều ấy đúng nhưng không đầy đủ. Tại sao mọi người dân bình thường đều hiểu khi đọc các bài viết, khi nghe các lời nói của Người, vậy mà ngay các học giả lớn lại cảm thấy dường như chưa hiểu hết.

Tư tưởng của Người cô đọng hàm xúc trong cách thể hiện và biểu đạt, gần gũi với phong cách cổ điển, ý tại ngôn ngoại, hàm xúc dư ba. Đó là tư tưởng ở giữa hai dòng chữ, nhà tư tưởng uyên bác, thâm thuý nhưng không mang dáng dấp hàn lâm, bác học mà gần gũi với đời thường, sâu sắc mà thuần phác như lẽ phải thông thường.

Hơn nữa, Hồ Chí Minh giản dị chứ không giản đơn. Giản dị là đã trải qua sự phong phú, sự sâu sắc, lọc qua tất cả những bộn bề, phức tạp để đi tới giản dị, đến với sự giản dị. Giản dị và sâu sắc của Hồ Chí Minh không chỉ ở tích luỹ tri thức và hiểu biết mà còn ở sự trải nghiệm bản thân.

Giản dị ở Hồ Chí Minh là cả một bản lĩnh văn hoá, là phong cách dân chủ ở Người. Đây chính là chỗ đạt tới minh triết. Minh triết, từ tất cả những điều đã nói ở trên, có thể rút ra một vài nhận xét:

- Sự sáng rõ, rành mạch trong tư duy và sự sâu sắc của tư tưởng, đó là minh triết trong suy nghĩ, minh triết của nhận thức. Minh triết có cốt cách của trí tuệ, hoặc thâu thái trong sách vở hoặc nhờ trực cảm, trực giác trong kinh nghiệm sống được tích lũy mà thành.

- Sự nhạy cảm, tinh tế trong những quan sát, chiêm nghiệm và đánh giá người và việc, đời sống và tạo vật, xã hội và thiên nhiên ở quanh mình. Đó là Tình, là cảm xúc và tình cảm của con người minh triết. Đó là tình yêu, động lực mãnh liệt của hoạt động sáng tạo và sự hoàn thiện đạo đức, nhân cách. Cái tình làm nên thần thái, nó như thổi hồn vào trí. Trí tuệ có bệ đỡ của tình cảm mới trở nên sống động, có hồn chứ không vô hồn, vô cảm. Tình cảm có sự tham dự sáng suốt của trí tuệ mới sâu sắc, bền lâu, không hời hợt, nông cạn và tầm thường.

- Sự từng trải trong đường đời làm nên kinh nghiệm, vốn sống, có vị trí rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn đối với sự hình thành minh triết. Nó giúp con người tự đặt mình trong những cảnh ngộ, nếm trải trực tiếp những va đập của cuộc sống, thuận lợi và khó khăn, thành công và thất bại để tự lớn lên và trưởng thành về phương diện tinh thần, về nhân cách. Đó là những trải nghiệm qua thử thách, cả những tình huống éo le của số phận. Bởi vậy, trường học của cuộc sống mới tạo nên giá trị đích thực của khoa học xã hội và nhân văn như Người đã nhận xét. Cuộc đời và hoạt động sống của con người như thế nào thì minh triết mà con người có được như thế ấy. “Khổ đau nhiều mới yêu thương lắm” là một đúc kết minh triết ở những người biết cảm nhận, biết đánh giá để biết lựa chọn giá trị.

- Minh triết hài hoà giữa lý và tình, nó dung hợp làm một và đạt đến độ nhuần nhuyễn giữa chân lý và đạo lý, giữa lẽ phải và tình thương. Người minh triết là người chú trọng thế ứng xử và phép ứng xử sao cho hợp lý, hợp lẽ. Đó là đạo ở đời và làm người. Tinh thần minh triết là tinh thần hoà hợp, đồng thuận, khoan dung. Minh triết là dấu hiệu và thước đo về sự trưởng thành của nhân tính, đó là thái độ và hành vi biết mình, biết người, hiểu đời nên biết điều chỉnh, biết kiềm chế, biết nhẫn nại, biết hy sinh, vượt lên những thói đời tầm thường, nhỏ mọn, giữ cho lòng mình được trong sạch, ngay thẳng. Biết tự trọng mình nên biết tự vấn lương tâm, tự dằn vặt về những điều không phải, không xứng ở mình và ở người. Tôn trọng người nên biết quý trọng giá trị của người, hào hiệp, vô tư, không hẹp hòi, đố kỵ, ganh ghét. Người có minh triết, ấy là người có tâm trong sáng, có động cơ ngay thẳng, hẳn hoi, tử tế, lương thiện, thể hiện rõ ràng cái bản ngã để biết sống vô ngã, biết quan tâm tới người khác nên vị tha chứ không vị kỷ. Vô ngã vị tha từ triết lý nhà Phật, trong kinh điển Phật giáo đi vào đời sống và sự tu dưỡng cá nhân thành ra minh triết trong lối sống, minh triết về đạo đức.

- Tổng hợp tất cả những biểu hiện, những đặc trưng nêu trên của minh triết để thấy, người có minh triết là người đạt được sự thanh thản, tự do, an nhiên tự tại, tự chủ và làm chủ trước hoàn cảnh và trong các mối quan hệ.

Trở lại những tương quan so sánh giữa triết học, triết lý và minh triết, một cách tương đối có thể nhận thấy:

Triết học mạnh trong nghĩ và vạch ra tư tưởng, xác lập hệ thống cấu trúc và lôgích của tư tưởng phản ánh hiện thực thế giới, tìm bản chất và căn nguyên của cái phổ biến, tổng thể và toàn thể.

Triết lý thiên về cảm và những suy tư, đúc rút thành chân lý, quy tắc, phương châm ứng xử, chỉ dẫn về hành vi, lối sống.

Minh triết là sự giác ngộ, sự nhận chân đời sống và con người, sự sáng suốt, thông tuệ, mẫn tiệp trong tầm nhìn và hành động, trong ứng xử, hành xử mà con người minh triết có được bởi sự từng trải, chiêm nghiệm, trải nghiệm. Sự “ngộ ra” trong minh triết là kết quả của tự nhận thức mà cũng do mách bảo của cuộc sống đối với con người; Con người tự mình đạt tới minh triết khi tuệ giác của con người phát triển và được nuôi dưỡng nhờ cả trường học, lẫn trường đời. Giản dị hoá những cái phức tạp một khi đã thấu hiểu bản chất của nó, đó là một năng lực minh triết. Đạo đức minh triết, ứng xử minh triết hướng vào sự hoà đồng (hài hòa, nhân hoà, đồng thuận), nhờ đó minh triết có khả năng hoá giải, đạt tới sự bình ổn, thanh thản. Đó là bản lĩnh văn hoá trong minh triết và con người minh triết, ý thức sâu sắc cái tôi bản thể và bản ngã của mình để giác ngộ về những ràng buộc tất yếu, chủ động ứng xử cho phù hợp để đạt đến tự do.

Minh triết là sự hướng dẫn khôn ngoan, sáng suốt cho những sự giải thoát và tự giải thoát, giải phóng và tự giải phóng, hướng đích tới phát triển và tự phát triển.

Trong minh triết có triết học và triết lý. Hình thái đặc thù của nó là triết học vô ngôn, nó trọng tinh thần triết học chứ không câu nệ vào khái niệm, phạm trù, câu chữ sách vở. Triết lý trong minh triết cũng vậy. Đó là triết lý đạo đức, nhân sinh, là những cảm nhận, đúc kết về nhân tình thế thái trong cuộc sống, ở giữa đời thường, nó cụ thể, hiện thực sinh động chứ không phải là những triết lý trừu tượng, tư biện. Trở lại câu hỏi ban đầu, người bình thường có minh triết hay không? Ngọn nguồn minh triết ở trong cuộc sống, ai sống ở đời cũng tiềm tàng một khả năng minh triết nhờ sống trong mạch nước nguồn và cội rễ của minh triết là đời sống nên hấp thụ được.

Dĩ nhiên, có dòng văn học, văn hoá dân gian song hành cùng văn học, văn hoá bác học. Cũng như vậy, có minh triết dân gian, trong cuộc sống đời thường và minh triết bác học, mà giới trí thức tinh hoa là đại biểu.

Trí tuệ, đạo đức và những trực giác (trực cảm, kinh nghiệm, vốn sống) là những nòng cốt chất liệu làm nên minh triết.

Người thường, từ cuộc sống và kinh nghiệm sống mách bảo mà có thể bằng trực cảm nói ra được một cách rất hồn nhiên, thuần phác một nhận xét minh triết, một quan niệm hay tư tưởng minh triết. Đó là cảm quan minh triết chưa qua khoa học hoá, lý luận hoá.

Nhà trí thức, nhà tư tưởng, các học giả, chính khách với trình độ cao về học vấn, học thức, với sự phong phú của kinh nghiệm được tích luỹ, với sự đa dạng các mối quan hệ xã hội, các lĩnh vực hoạt động… họ không dừng lại ở những cảm quan minh triết mà nâng minh triết lên trình độ luận lý, hệ thống, có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của xã hội và thời đại. Minh triết Hồ Chí Minh là một phức hợp nhiều chiều cạnh, nhiều phương diện, nhiều lớp quan hệ, nhiều hoàn cảnh và vị thế khác nhau mà Người đã quan sát, trải nghiệm, tổng kết và đúc rút thành phương châm sống và hành động của mình. Minh triết Hồ Chí Minh là minh triết của nhà tư tưởng với trí tuệ uyên bác và mẫn tiệp, sự sáng suốt ở tầm chiến lược, phát kiến ra con đường phát triển để chấn hưng đất nước và dân tộc, giải phóng con người, thực hiện lý tưởng giải phóng, khát vọng tự do và làm chủ, phấn đấu cho hạnh phúc cuộc sống và lương tri phẩm giá con người của nhân dân Việt Nam trong chủ nghĩa xã hội. Minh triết Hồ Chí Minh là minh triết của nhà nhân văn chủ nghĩa mang tầm vóc thời đại, để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử thế giới hiện đại với tình thương yêu nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi, thiết tha với hoà bình, đấu tranh cho tự do và công lý, đề cao đạo đức và thực hành đạo đức, là mẫu mực của văn hoá khoan dung.

Bản chất khoa học - cách mạng và nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong minh triết Hồ Chí Minh thành những chuẩn mực giá trị văn hoá Chân - Thiện - Mỹ, những định hướng sáng tạo - đổi  mới và phát

triển, thành phương châm hành động. Dĩ bất biến ứng vạn biến, thực hành nguyên lý kinh điển một cách hiện đại “Thiên thời - Địa lợi - Nhân hoà”, lấy Nhân hòa làm gốc. Minh triết Hồ Chí Minh tỏa sáng vẻ đẹp cao quý của một trí tuệ lớn, nhân cách lớn, động cơ cao thượng, suốt đời vì dân, vì nước và vì cả thế giới nhân loại, với sức mạnh của sự quên mình và hoá thân vào cuộc sống của dân để suốt đời làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân. Minh triết Hồ Chí Minh là chân giá trị của văn hoá Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại, được thăng hoa bởi Hồ Chí Minh, là đóng góp đặc sắc vào sự phát triển văn hoá minh triết của thế giới nhân loại./.

H.C.B

____________________

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, tr.270.

2, 3, 4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, tr.263, 267, 268.

5. Hồ Chí Minh, sđd, tr.268.

6, 7. Hồ Chí Minh, Bút tích và toàn văn Di chúc. Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2007. tr.3, 26.

8. Tlđd, tr. 28

9. Tlđd, tr. 25

10. Tlđd, tr. 27.



*

Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2012
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận