Khai thác giá trị văn hóa ẩm thực Việt Nam để đẩy mạnh phát triển du lịch

Ngày đăng: 12/10/2026 Lượt xem: 145
Mặc định Cỡ chữ

KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM

ĐỂ ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

 

TS. Nguyễn Văn Lưu


Văn hóa ẩm thực là một nét văn hóa được hình thành trong cuộc sống thường nhật, bồi đắp dần qua năm tháng, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ẩm thực của một dân tộc, một cộng đồng, một gia đình không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn có giá trị cao hơn được thể hiện ở khía cạnh văn hóa tinh thần của nó. Qua ẩm thực người ta có thể hiểu được nét văn hóa thể hiện phẩm giá con người, văn hóa của một dân tộc, của một vùng với những đạo lý, phép tắc, phong tục trong cách ăn uống...

Các tác giả cuốn giáo trình Văn hóa ẩm thực thuộc Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội rất có lý khi khẳng định rằng: Văn hóa ẩm thực gồm các yếu tố giá trị vật chất và yếu tố giá trị tinh thần, với các nội dung được hình thành từ: 1) Các loại nguyên liệu thực phẩm dùng cho ăn uống và cách khai thác, bảo quản, dự trữ, chế biến nguồn nguyên liệu thực phẩm đó; 2) Cách lựa chọn, sử dụng các nguyên liệu thực phẩm gia vị để chế biến món ăn, đồ uống; 3) Cách lựa chọn và sử dụng các công cụ phục vụ cho quá trình chế biến và ăn uống; 4) Các phương pháp, bí quyết chế biến và cách kết hợp các loại thực phẩm và gia vị; 5) *Các món ăn, các đồ uống và những thói quen, tập quán, thông lệ trong ẩm thực; 6) Khẩu vị ăn uống và cách kết hợp giữa ăn và uống; 7) Cách tổ chức việc ăn uống hàng ngày và những dịp đặc biệt như lễ tết, yến tiệc, địa điểm, thời gian, cách thức tiến hành; 8) Các ứng xử xung quanh việc ăn và uống giữa người với người, với thế giới tâm linh, với thực phẩm, môi trường sống, sản phẩm và công cụ.

Việt Nam là quê hương của nhiều món ăn ngon, từ những món ăn dân giã ngày thường đến những món ăn cầu kỳ để phục vụ lễ hội dân gian hay các sinh hoạt trong cung vua, phủ chúa; từ bữa ăn bình dân đến yến tiệc cung đình, quốc tiệc ngoại giao… đều mang những vẻ riêng. Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc trên đất nước hình chữ S này, lại có những món ăn khác nhau, cách ăn khác nhau mang ý nghĩa và tạo nên bản sắc riêng biệt. Ẩm thực đa dạng phong phú đó phản ảnh truyền thống và đặc trưng của mỗi cư dân sinh sống ở từng khu vực. Mỗi một cộng đồng cư dân đều có cách ăn, cách uống và các món ăn, đồ uống khác nhau, phản ánh sự phát triển kinh tế, xã hội của tộc người đó.

Cùng với lượng khách du lịch ngày càng tăng, cả khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa, văn hóa ẩm thực của Việt Nam trong hoạt động du lịch cũng được quan tâm và đánh giá cao. Ngành du lịch Việt Nam đã chú ý khai thác giá trị văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch. Số lượng khách quan tâm đến văn hóa ẩm thực, kết hợp đi du lịch và tìm hiểu ẩm thực của các vùng, miền, các cộng đồng, ngày một tăng và trở thành xu hướng du lịch ẩm thực. Nhiều khách du lịch còn quan tâm đến tour du lịch dạy nấu ăn, học để biết, làm quen với khẩu vị, với cách chế biến món ăn đồ uống vì ý thích, nhưng trong số đó còn những người học chế biến món ăn để mưu sinh.

Tuy vậy, nhu cầu ăn uống trong chuyến du lịch có những nét khác biệt so với nhu cầu ăn uống thường ngày của mỗi con người. Trong khi ăn uống ở nhà chỉ là nhu cầu thiết yếu hàng ngày, đảm bảo cho sự tồn tại của mỗi người theo quy luật tự nhiên trong môi trường và khung cảnh quen thuộc, thì ăn uống ở nơi tham quan du lịch là đòi hỏi không chỉ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu mà còn là một sự khám phá, thưởng thức của khách du lịch trong mỗi chuyến đi. Từ đặc trưng này của cầu du lịch, các cơ sở lưu trú và ăn uống cần chú ý nhiều hơn đến việc phục vụ khách du lịch bằng những dịch vụ và món ăn, đồ uống thể hiện đặc sản riêng của mình, của địa phương mình hơn là phục vụ họ bằng món ăn, đồ uống nơi họ cư trú. Không nên phục vụ khách châu Âu bằng các món ăn Âu là chính mà nên mời họ những món ăn đặc sản mang tính vùng, miền của cơ sở ăn uống, nếu du khách không có đòi hỏi hoặc chỉ định phục vụ cụ thể.

Khi đi du lịch, khách có thể chọn một trong các phương án ăn tại khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, nhà người quen, hoặc ăn tại nhà hàng... Để thoả mãn nhu cầu ăn uống, khách du lịch có thể tự mình chuẩn bị bữa ăn hay được mời đến nhà người thân hoặc bạn bè, sử dụng các dịch vụ phục vụ ăn uống của các cơ sở phục vụ ăn uống như nhà hàng, khách sạn, quán ăn, tiệm rượu, phòng trà...

Nhìn dưới góc độ thị trường trong lĩnh vực du lịch thì ăn uống mặc dù không phải là mục đích của chuyến đi, nhưng do tính chất tự nhiên của nhu cầu sinh lý, nhu cầu về dịch vụ ăn uống trong khi đi du lịch chiếm một phần đáng kể trong tổng chi tiêu của khách du lịch, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định phần còn lại của tổng cầu du lịch và đảm bảo chất lượng của chuyến đi du lịch. Thu nhập từ dịch vụ ăn uống trong du lịch chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng thu nhập từ du lịch.

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Du lịch, loại trừ chi phí tự chuẩn bị bữa ăn hay được mời đến nhà người thân hoặc bạn bè, chi phí của khách du lịch cho dịch vụ ăn uống ở nước ta xếp thứ hai sau phí thuê phòng lưu trú, chiếm tỷ trọng 19,4% tổng chi tiêu hàng ngày trong chuyến du lịch. Cơ cấu chi tiêu được minh họa bằng bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Cơ cấu chi tiêu một ngày của mỗi khách du lịch ở Việt Nam

Cơ cấu chi

Mức chi (USD)

Tỷ trọng (%)

1. Thuê phòng

21,6

29,3

2. Ăn uống

14,3

19,4

3. Đi lại

7,9

10,7

4. Tham quan, giải trí

6,9

9,3

5. Mua sắm

13,7

18,6

6. Chi khác

9,5

12,9

Tổng cộng

73,80

100

Nguồn: Tổng cục Du lịch

Cơ cấu chi tiêu một ngày của mỗi khách du lịch ở Việt Nam với số liệu như bảng trên.


Khách du lịch nội địa, trừ khách cao cấp, chi cho ăn uống ở mức thấp hơn khách du lịch quốc tế. Đối với nhóm khách du lịch quốc tế, nổi bật lên một điều là nhóm khách đến từ các thị trường châu Á có mức chi cho ăn uống xếp vào loại thứ nhất, cao hơn nhiều so các thị trường khác. Nhóm thứ hai là nhóm có chi tiêu cho ăn uống đạt mức khá với 5 thị trường xếp thứ tự từ cao xuống thấp là Hồng Kông chi 28,9 USD, rồi đến Hàn Quốc chi 19,5 USD, Nhật Bản chi 18,5 USD, Đài Loan chi 16,5 USD và ASEAN chi xấp xỉ 16 USD/ngày. Nhóm chi tiêu cho ăn uống ở mức trung bình có 9 thị trường, phần lớn là khách từ các thị trường gửi khách ở châu Âu, châu Đại Dương và Mỹ. Đứng đầu nhóm chi cho ăn uống ở mức trung bình là khách Mỹ với 15,6 USD, còn lại 8 thị trường từ 11,7 USD (Newzeland) đến 12,9 USD (Thụy Sỹ và Bỉ). Nhóm chi cho ăn uống ở mức thấp gồm 4 thị trường là Trung Quốc với mức chi 8 USD, Thụy Điển chi 7,5 USD, Canada chi 8,1 USD và Hà Lan chi cho ăn uống ở mức 9,5 USD/ngày.

Với thế mạnh về ẩm thực của Việt Nam, hệ thống nhà hàng phục vụ khách du lịch nói riêng và phục vụ cộng đồng dân cư nói chung phát triển mạnh trong những năm gần đây. Các loại nhà hàng với nhiều phong cách phục vụ, nhiều chủng loại các món ăn Âu, Á rất phong phú được mọc lên. Đặc biệt phong cách phục vụ và hình thức bài trí món ăn cũng như các dịch vụ văn hóa khác như nghệ thuật dân gian được biểu diễn lồng ghép trong các bữa ăn tạo cho khách du lịch có những trải nghiệm đặc sắc.

Tại các thành phố lớn và các trung tâm du lịch, nơi có mức "cầu" ăn uống khá ổn định, thì các nhà hàng trong và ngoài cơ sở lưu trú, các quán cà phê, quán bar phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch quốc tế. Các doanh nhân địa phương phát huy rất tốt khả năng kinh doanh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, ngoài các địa điểm này, nơi không có "cầu hoặc có "cầu" nhưng không bền vững thì hầu như không có các dịch vụ ăn, nghỉ tiện nghi, đáp ứng được yêu cầu của khách nước ngoài. Một vài nơi chưa đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình phục vụ khách du lịch quốc tế và nội địa.

Trong chuỗi các sản phẩm du lịch Việt Nam cần phát triển mạnh sản phẩm du lịch ẩm thực đặc sắc, giới thiệu rộng rãi văn hóa ẩm thực của Việt Nam, của từng vùng, mỗi địa phương; coi ẩm thực là một trong những sản phẩm du lịch văn hóa quan trọng, là cấu phần nổi trội của thương hiệu du lịch Việt Nam. Trong 10 năm tới, trong quá trình phát triển du lịch, cần phấn đấu đưa Việt Nam thành “nhà bếp” trong hoạt động du lịch của thế giới và khu vực. Bên cạnh đó, các giá trị văn hóa ẩm thực vùng, miền được coi là nền tảng và nét đặc trưng của các sản phẩm du lịch ẩm thực của từng vùng, miền, mỗi địa phương.

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực là một hướng đi cần được ưu tiên. Để khai thác tốt các giá trị của văn hóa ẩm thực nhằm phát triển du lịch, khi thiết kế tour du lịch phải rất chú ý đến các bữa ăn cho khách du lịch nói riêng và thực khách nói chung. Các bữa ăn đó phải đậm nét văn hóa ẩm thực Việt Nam, phải thể hiện rất rõ hai yếu tố vật chất và phi vật chất. Văn hóa vật chất là các món ăn, đồ uống còn văn hóa tinh thần là cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chế biến các món ăn, cùng ý nghĩa, biểu tượng, tâm linh (1). Như vậy, văn hóa vật chất trong văn hóa ẩm thực gồm các món ăn, đồ uống, các công cụ phục vụ chế biến, không gian và các dụng cụ phục vụ hoạt động ăn uống. Yếu tố tinh thần, cái hồn của văn hóa ẩm thực là cách thức tổ chức các hoạt động từ quá trình khai thác nguyên liệu từ tự nhiên, môi trường; cách lựa chọn, phối hợp nguyên liệu gia vị, cách chế biến, trình bày món ăn đồ uống và cách thức tiêu dùng thưởng thức các món ăn, đồ uống đó.

Trên cơ sở định hướng như vậy, hoạt động kinh doanh ăn uống du lịch là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 dựa trên thế mạnh ẩm thực Việt Nam.

Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thì hệ thống nhà hàng du lịch gắn liền với các cơ sở lưu trú, cơ sở dịch vụ du lịch, tại các khu, điểm du lịch và các trung tâm đô thị cần được khuyến khích phát triển, nhưng phải theo quy hoạch, không đầu tư tràn lan hoặc để phát triển tự phát.

Các địa phương là trung tâm du lịch cần phát triển nhiều loại hình nhà hàng đa dạng theo các chuyên đề món ăn, đồ uống, các đặc trưng văn hóa: Nhà hàng Việt cung cấp các món ăn, đồ uống đặc trưng Việt Nam; Nhà hàng Á với các món ăn đặc trưng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ v.v…; Nhà hàng Âu với các món ăn, đồ uống đặc trưng của Pháp, Ý, Đức, Nga… Hoạt động của các loại nhà hàng nêu trên nên phục vụ tất cả các nhóm thực khách là khách du lịch, khách vãng lai và khách là cư dân sở tại.

Về chế biến món ăn, đồ uống cần chú ý đáp ứng theo nhu cầu thị trường, cũng không nên loại trừ đồ ăn nhanh đến mức cực đoan, tuy nhiên phải phát triển trên nền tảng các món ăn truyền thống, nổi tiếng của Việt Nam, phù hợp với bản sắc văn hóa, ẩm thực Việt Nam. Các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cần khuyến khích phát triển các món ăn, đồ uống và mời khách du lịch ăn uống theo văn hóa ẩm thực của đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng, miền, để hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù.

Về phong cách phục vụ ăn uống cần phát triển theo xu hướng trải nghiệm văn hóa ẩm thực. Ngoài chất lượng món ăn, các nhà hàng du lịch nên thiết kế, bài trí không gian văn hóa đặc trưng, thu hút du lịch, phục vụ với sắc thái, phong cách độc đáo có kết hợp trình diễn nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống, đưa dân ca, dân vũ vào hoạt động phục vụ ăn uống. Làm như vậy không phải chỉ để tăng doanh thu, tạo được nhiều việc làm, mà sâu xa hơn là góp phần bảo tồn được văn hóa ẩm thực Việt Nam và văn nghệ dân gian.

Trong hoạt động du lịch, liên kết là yếu tố quyết định sự sống còn của các sản phẩm du lịch, của doanh nghiệp du lịch. Trong kinh doanh ăn uống, một lĩnh vực quan trọng của kinh doanh du lịch, cần tăng cường phát triển các món ăn của nhiều vùng miền để tạo sức hấp dẫn, phong phú và góp phần nâng cao tỷ trọng chi tiêu du lịch cho dịch vụ ăn uống. Liên kết để tránh đi những thực đơn đơn điệu, liên kết để khách du lịch không phải ăn “độc món” trong chuyến hành trình xuyên Việt.

Trong hoạt động kinh doanh, phục vụ ăn uống điều quan trọng nhất là vệ sinh và an toàn thực phẩm. Các cơ sở, tổ chức phục vụ ăn uống cần tăng cường sử dụng các loại thực phẩm, rau quả, đồ uống sản xuất trong nước để phục vụ khách du lịch quốc tế nhằm giảm tỷ lệ rò rỉ ngoại tệ và tăng hiệu quả tiêu thụ hàng hóa tại chỗ qua du lịch. Các cơ sở, tổ chức phục vụ khách du lịch có thể liên kết với các hợp tác xã nông nghiệp, các trang trại, các hội, đoàn thể, cá nhân đầu tư phát triển vùng nuôi trồng thực phẩm sạch để phục vụ thực khách trong nước và quốc tế, vừa tạo thêm việc làm cho nông dân, vừa hình thành các vùng cung cấp thực phẩm an toàn. Đây là biện pháp rất nhiều nước đã áp dụng, cần được vận dụng triệt để ở Việt Nam. Nếu phát triển tốt, những vùng, trang trại cung cấp thực phẩm sạch sẽ trở thành điểm tham quan du lịch, tạo sự trải nghiệm cho khách tham gia loại hình nông nghiệp ở các trang trại này. Làm như vậy sẽ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hoạt động kinh doanh ăn uống phục vụ khách du lịch; đảm bảo nguồn gốc nguyên liệu chế biến, độ an toàn, thời hạn sử dụng, quy trình bảo quản, chế biến đảm bảo khoa học, vệ sinh và đảm bảo dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe cho du khách.

Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, đồ uống cũng sẽ được phát triển mạnh về chủng loại, được pha chế đa dạng. Để bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực Việt Nam trong phát triển du lịch cần khuyến khích phát triển các đồ uống từ thiên nhiên là đặc sản của Việt Nam như cà phê, trà xanh, nước ép trái cây, rượu nho, rượu từ gạo, ngô; từng bước nâng cao chất lượng và thương hiệu của đồ uống nguồn gốc Việt Nam; hạn chế nhập khẩu đồ uống xa xỉ từ nước ngoài.

Bên cạnh những giải pháp nêu trên, cần tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch ẩm thực Việt Nam, nét đẹp văn hóa ẩm thực của đất nước cả trên bình diện quốc gia, vùng, địa phương, hiệp hội và từng doanh nghiệp. Nên phát huy vai trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để quảng bá văn hóa ẩm thực Việt Nam. Hiện nay có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia ở nhiều châu lục. Theo bước chân người Việt đến khắp thế giới, ẩm thực Việt và văn hóa ẩm thực Việt Nam với những nét đặc sắc của nó ngày càng được biết tới ở nhiều nước và vùng lãnh thổ có cộng đồng người Việt học tập, công tác và sinh sống. Nhiều tiệm ăn Việt, hoặc có những nhà hàng ASEAN nhưng thực chất kinh doanh món ăn Việt Nam do người Việt Nam làm chủ, rất đông khách ở các nước như Canada, Ba Lan, Campuchia, Cộng hòa Séc, Đức, Lào, Mỹ, Nga, Pháp, Ucraina, Úc, Thái Lan… Món ăn, đồ uống thuần Việt như cơm, phở, nem, bún ốc, nước mắm, rau thơm… rất phổ biến ở đây. Ngành du lịch và ngành văn hóa nên đầu tư, hướng dẫn cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đặc biệt là những người tham gia kinh doanh ăn uống, có những hoạt động quảng bá phù hợp nét đẹp văn hóa ẩm thực Việt Nam đến cư dân bản địa./.

N.V.L

(Tạp chí Văn hóa học, số 3 (7) - 2013) 

____________________

1. Nguyễn Quang Lê, Văn hóa ẩm thực trong lễ hội truyền thống Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003, tr. 11.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -2020, Hà Nội 2011.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Niên giám Thống kê năm 2009, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2010; Niên giám thống kê Việt Nam năm 2010, 2011 và 2012.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI Đảng Cộng sản Việt Nam.

4. Half. Rosenbluth, Diane McFerrin Peters, Khách hàng chưa phải là thượng đế, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2009.

5. Tập thể tác giả, Dự báo thế kỷ 21, Nxb. Thống kê, 1998.

6. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 31/12/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

7. Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Giáo trình Văn hóa ẩm thực, 2012.

8. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Báo cáo tổng hợp Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2012.





Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2013
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận