Di sản Tháp Bà Po Nagar trong phát triển du lịch bền vững từ góc nhìn nguồn lực văn hóa

Ngày đăng: 16/10/2026 Lượt xem: 111
Mặc định Cỡ chữ

DI SẢN THÁP BÀ PO NAGAR

TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

TỪ GÓC NHÌN NGUỒN LỰC VĂN HÓA

 GS.TS. Từ Thị Loan

Mở đầu

Tháp Bà Po Nagar được coi là một di sản văn hóa tiêu biểu, biểu tượng du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Đây là quần thể di tích lớn nhất vùng Nam Trung Bộ đại diện cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời kỳ Hindu của văn hóa Champa.

Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam nói chung, du lịch Khánh Hòa nói riêng ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong nền kinh tế. Trong phát triển du lịch, sản phẩm mũi nhọn chính là du lịch văn hóa và trong du lịch văn hóa, di sản văn hóa đóng vai trò nòng cốt.

Trong bối cảnh nhiều quốc gia chủ trương lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm, dựa trên nền tảng công nghệ tiêu tốn năng lượng, lạm dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường và trốn tránh trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Our Common Future), Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED-World Commission on Environment and Development) đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững, là “sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” (Clark, William; Harley, Alicia 2020: 331).

Đến năm 1992, nội hàm của khái niệm phát triển bền vững được bổ sung và hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) trong Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI. Theo đó, ba trụ cột của phát triển bền vững là: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống (Vũ Văn Hiền, 2014).

Từ cách tiếp cận coi di sản là một nguồn lực văn hóa phục vụ cho phát triển bền vững, bài viết nhận diện những giá trị nguồn lực của di tích và lễ hội Tháp Bà, tìm hiểu hiện trạng phát huy các giá trị này đối chiếu với các mục tiêu của phát triển bền vững và góp bàn một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, phát huy giá trị nguồn lực văn hóa của di sản trong thời gian tới.

Nguồn lực di sản văn hóa và phát triển du lịch bền vững

Trong những năm gần đây, di sản văn hóa ngày càng được đề cao như một nguồn lực văn hóa có giá trị gia tăng to lớn để khai thác phục vụ cho phát triển. Đến nay đã có nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau, tuy nhiên các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng di sản văn hóa là một loại vốn đặc biệt, là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội (Nguyễn Toàn Thắng 2016, Trần Thị An 2017, Nguyễn Thị Mai Anh 2020, Từ Thị Loan 2023),... Theo tác giả Lê Quý Đức, “nguồn lực văn hoá có thể được hiểu là tổng thể các yếu tố văn hoá tác động trực tiếp hay gián tiếp tới các hoạt động kinh tế - xã hội. Nguồn lực văn hoá là sức mạnh vừa hữu hình, vừa vô hình, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững theo hướng nhân văn, nhân bản” (Lê Quý Đức, 2012, tr. 10).

Từ quan điểm chung về phát triển bền vững nêu trên, Mạng lưới Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp quốc (United Nation World Tourism Organization Network - UNWTO) đã xác định du lịch bền vững (sustainable tourism) phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên.

- Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa.

- Về kinh tế: Bảo đảm hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế - xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định, các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo (Đỗ Hồng Thuận, 2015).

Như vậy, khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế, mà còn chú trọng bảo vệ văn hóa của cư dân địa phương, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động du lịch. Khi khai thác du lịch, người dân có thể nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhờ du khách đến thăm quan, sử dụng các dịch vụ du lịch và sản phẩm đặc trưng của vùng miền, khai thác các giá trị văn hóa của địa phương. Phát triển du lịch bền vững sẽ đảm bảo các vấn đề về xã hội, như giảm bớt tệ nạn xã hội thông qua cung cấp công ăn việc làm cho người dân, có nguồn thu để gia tăng các phương diện phúc lợi, an sinh xã hội. Du lịch bền vững cũng giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bảo các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển hợp lý để các thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng.

2. Di sản Tháp Bà Po Nagar từ góc nhìn nguồn lực văn hóa trong phát triển du lịch

2.1. Di tích Tháp Bà Po Nagar sở hữu nhiều giá trị lịch sử, tâm linh, văn hóa, nghệ thuật đặc sắc

Trên phương diện lịch sử, cụm di tích tháp Bà Po Nagar có một bề dầy truyền thống lâu đời. Tháp được khởi dựng từ những năm 813-817 dưới thời vương triều Panduranga xứ Kauthara để thờ nữ thần Po Inư Nagar, Bà Mẹ Xứ sở của người Chăm. Khu đền tháp phản ánh sự cường thịnh của vương quốc Champa cổ và có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, tinh thần của cộng đồng. Khu di tích đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, được tu bổ, tôn tạo nhiều lần và đến nay vẫn sừng sững “trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa khung cảnh phố thị đông vui, sầm uất của thành phố Nha Trang. Có thể nói, Tháp Bà Po Nagar như một nhân chứng lịch sử, một tượng đài văn hóa bất hủ nhắc nhớ về những giai đoạn lịch sử trầm hùng đã qua của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trên phương diện nghệ thuật, cụm di tích Tháp Bà Po Nagar phản ánh những giá trị kiến trúc và điêu khắc độc đáo. Quần thể kiến trúc này được phân bố thành 3 tầng: Tháp cổng, khu tiền đình Mandapa và khu đền tháp. Hiện nay tầng tháp cổng không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn giữ được những cột trụ, bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa. Tầng giữa là Mandapa (nhà khách, nhà tĩnh tâm) dành cho khách hành hương nghỉ ngơi, chuẩn bị lễ vật, gồm 4 hàng cột hình bát giác với 10 cột lớn và 12 cột nhỏ. Tầng cao nhất là khu đền tháp (kalan), dãy tháp phía trước có ba ngôi, dãy phía sau có dấu vết ba ngôi tháp khác, nhưng nay chỉ còn lại 1 tòa tháp.

Tháp Đông Bắc là tháp lớn nhất, nơi thờ nữ thần Po Nagar (người Việt gọi là Tháp Bà hay Thánh Mẫu Thiên Y Ana) cao khoảng 23m với 4 tầng, mỗi tầng đều có cửa, tượng thần và hình thú bằng đá, 4 góc có 4 tháp nhỏ. Bên trong tháp có tượng nữ thần cao 2,6m tạc bằng đá hoa cương màu đen ngồi trên bệ đá hình đài sen, lưng tựa phiến đá lớn hình lá bồ đề (1). Bức tượng là một kiệt tác về điêu khắc Champa với sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi. Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cưỡi ngưu thần Nandin và các tượng linh vật như thiên nga, dê, voi,... Mặt ngoài tường tháp được trang trí những hình điêu khắc vào đá như vũ công, người chèo thuyền, xay gạo, đi săn (https://nhatrangtoday.vn).

Tháp ở giữa là tháp Nam, nơi thờ thần Cri Cambhu, tên gọi khác của thần Shiva (người Việt gọi là tháp Ông, thờ Thái tử chồng Thánh Mẫu Thiên Y Ana). Ngôi tháp nhỏ nhất phía ngoài cùng là tháp Đông Nam, thờ thần Skandha, một người con của thần Shiva, vị thần tượng trưng cho chiến tranh (người Việt gọi là tháp Cố, nơi thờ ông Tiều bà Tiều, cha mẹ nuôi của Thánh Mẫu Thiên Y Ana). Phía sau tháp chính là tháp Tây Bắc, nơi thờ thần Ganesa, cũng là một người con của thần Shiva, vị thần tượng trưng cho may mắn, hạnh phúc (người Việt gọi là tháp Cô Cậu thờ công chúa Quý và hoàng tử Trí, hai người con của Thánh Mẫu Thiên Y Ana).

Các ngôi đền tháp đều thể hiện những tinh hoa nghệ thuật của văn hóa Champa, sự kỳ vĩ cũng như  khả năng tạo tác đầy tài hoa của nghệ thuật điêu khắc Chăm cổ. Thân tháp có nhiều gờ, trụ, đấu, trên đỉnh các trụ đặt gạch trang trí hoa văn hình vòm tháp, giống như một chiếc tháp nhỏ đặt lên một tháp lớn. Mặt ngoài thân tháp có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung, như hình Po Nagar, thần Tenexa, các tiên nữ, các loài thú như nai, ngỗng vàng, sư tử,... Một nét đặc sắc, bí ẩn của nghệ thuật xây dựng đền tháp tại đây là chất liệu của các viên gạch rất xốp, nhẹ, mịn và việc xây gạch rất khít mạch, không có chất kết dính mà vẫn đảm bảo độ bền vững trường tồn với thời gian. Cho đến nay, đây vẫn là một câu đố chưa có lời giải đối với các nhà kiến trúc, xây dựng và điều đó càng hấp dẫn du khách đến tham quan, khám phá.

Cụm di tích Tháp Bà còn nổi tiếng bởi hệ thống bia ký cổ nhất của người Chăm với 28 đơn vị minh văn, có giá trị lớn trong việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá, tôn giáo của vương quốc Champa xưa. Phía sau Tháp chính có tấm bia do quan Thượng thư bộ Lễ triều Nguyễn Phan Thanh Giản ghi chép, biên soạn và cho khắc vào năm 1856 về truyền thuyết Thiên Y A Na. Tấm bia thứ hai do 8 vị quan tỉnh Khánh Hòa lập năm 1871. Bên cạnh đó là tấm bia dựng năm 1972 dịch sang chữ quốc ngữ truyền thuyết về Thiên Y A Na.

Trên phương diện tâm linh, Tháp Bà Po Nagar được coi là một khu Thánh địa linh thiêng đối với cả người Chăm và người Việt. Dù Bà là Po Inư Nagar, Po Nagar hay Thiên Y Ana thì đều là các vị Thánh Mẫu đầy quyền năng, có thể hô mưa gọi gió, mang lại mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình an và sung túc cho các gia đình và cộng đồng.

Sự công nhận và thể chế hóa của các triều đại phong kiến càng đề cao vị thế và sự linh thiêng của Thánh Mẫu. Tổng cộng các vương triều phong kiến đã ban14 sắc phong cho Bà là Thượng đẳng thần, trong đó có 2 sắc phong của các vua triều Nguyễn hiện được lưu giữ tại Tháp với tên gọi Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi và Thanh Linh Thuần Đức Linh thần (2). Chính vì vậy, hàng năm, di tích và lễ hội Tháp Bà thu hút hàng triệu tín đồ, du khách thập phương đến bày tỏ niềm tín tưởng, ngưỡng mộ đối với vị thần đầy quyền năng của vùng đất, cầu xin Bà ban cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho gia đình và bản thân.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đó, từ năm 1979 Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng Tháp Bà Po Nagar là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Có thể nói, đây là một nguồn lực văn hóa đầy tiềm năng để địa phương có thể khai thác, phát huy giá trị phục vụ cho phát triển du lịch nội địa và quốc tế.

2.2. Lễ hội Tháp Bà Po Nagar - lễ hội lớn nhất của khu vực Nam Trung Bộ

Cùng với những giá trị vật thể của cụm di tích, Tháp Bà Po Nagar còn bao chứa những giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc. Lễ hội Tháp Bà Po Nagar (kéo dài từ 20 - 23 tháng ba âm lịch) là một lễ hội lớn và nổi tiếng nhất khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Khởi thủy từ một lễ hội tôn thờ nữ thần Po Inư Nagar của người Chăm, khi đất Kauthara thuộc về Đại Việt, quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa diễn ra khiến Bà dần dần trở thành Thánh Mẫu Thiên Y Ana của người Việt và sự tích của Bà cũng dần dần được Việt hóa. Các lưu dân Việt theo chân chúa Nguyễn vào mở cõi phương Nam đã mang theo tục thờ Mẫu vùng châu thổ Bắc Bộ và lồng ghép các thực hành nghi lễ nơi quê hương bản quán trong quá trình thờ phụng Bà.

Đến nay, nhiều thực hành nghi lễ, lễ hội tại Tháp Bà đã có những thay đổi, phản ánh sự hỗn dung văn hóa Việt - Chăm. Chẳng hạn, phần lễ có sự đan xen  các nghi lễ: Lễ mộc dục, lễ thay y Thánh Mẫu (3), lễ cầu Quốc thái dân an, lễ thả hoa đăng, lễ hoàn kinh, lễ cúng thí thực, lễ Khai Diên, lễ Tôn vương, lễ dâng hương tạ Mẫu,... Trong thời gian lễ hội, người Việt tổ chức các hoạt động hầu bóng, múa lân, diễn tuồng, hát văn, còn người Chăm thì trình diễn các điệu múa Chăm, chơi trống ghinăng, paranưng, thổi kèn saranai, kéo đàn kanhi, hát dân ca Chăm… Nhìn chung, đây là một lễ hội thể hiện những nét giao thoa văn hóa Chăm - Việt sâu sắc.

Dù ở góc độ nào thì lễ hội cũng luôn là dịp để các cộng đồng trở về với cội nguồn, giáo dục thế hệ trẻ truyền thống văn hóa, đồng thời vun đắp những giá trị mới làm hành trang đi tới tương lai. Với những giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc, năm 2012 lễ hội Tháp Bà Po Nagar đã được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 

Những năm gần đây, lễ hội ngày càng thu hút đông đảo tín đồ, khách thập phương đến viếng thăm. Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2022 có khoảng 100 đoàn khách đăng ký dự lễ và hơn 70.000 lượt khách hành hương, tham quan. Năm 2023 cũng có hơn 100 đoàn khách đăng ký với hàng chục ngàn người dự lễ, trong đó có hơn 4.000 đồng bào dân tộc Chăm tại địa phương và các tỉnh lân cận (https://kinhtedothi.vn). Có thể thấy, lễ hội Tháp Bà Po Nagar cũng là một nguồn lực văn hóa to lớn có thể khai thác, phát huy phục vụ phát triển du lịch tại địa phương.

2.3. Po Nagar - vị Thánh Mẫu Trầm Hương của thánh địa Trầm Hương Việt Nam

Trầm hương là một sản vật quý giá được thiên nhiên ban tặng cho đất nước Việt Nam. Trầm hương Việt Nam từ lâu đã được công nhận là loại trầm hương có giá trị tốt nhất và giá thành cao nhất trong các loại trầm hương trên thế giới. Bao quanh sản vật trầm hương là cả một bầu khí quyển “văn hóa trầm hương” gắn liền với lịch sử, tôn giáo, văn hóa, dược liệu, hương liệu, thủ công mỹ nghệ, văn học nghệ thuật, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam (Nguyễn Duy Thái, 2024). Trong khoảng 30 năm gần đây, ngành trầm hương Việt Nam đã được khôi phục và phát triển ngày càng mạnh mẽ, trong đó Khánh Hòa được mệnh danh là “thánh địa Trầm Hương” của Việt Nam. Từ đó, vai trò của Thánh Mẫu Thiên Y Ana với vị thế là “Thánh Mẫu Trầm Hương” ngày càng được đề cao.

Nếu truyền thuyết của người Chăm mới chỉ đề cập chung chung đến việc Bà là người sinh ra muôn loài và vạn vật, trong đó có trầm hương (4), thì truyền thuyết của người Việt được Phan Thanh Giản ghi lại đã nhấn mạnh việc Bà hóa thân vào khối kỳ nam (loại trầm hương tốt nhất) trên con đường trôi dạt về phương Bắc cũng như lúc quay về quê cũ với mùi hương từ kỳ nam bay ngào ngạt khắp cả vùng. Chính vì vậy trong tâm thức người Việt Bà trở thành Thánh Mẫu Trầm Hương và lễ hội Tháp Bà còn được coi là ngày hội của những người làm nghề trầm hương. Người dân tin rằng Bà là người sở hữu trầm hương nhiều nhất, tất cả trầm hương đều do Bà đem đến và ban phát. Bà cho thì mới được nhận, còn không cho thì có tìm cách mấy cũng không ra, dù đứng ngay bên cạnh.

Tương truyền, nếu ai tìm được kỳ nam cũng giống như được thấy Bà, sẽ sung sướng, may mắn cả đời. Gặp được trầm may 1, thì gặp kỳ nam là may đến 10 lần. Người có phước phần, có đức, có duyên Bà mới cho thấy kỳ nam. Tương truyền trong dân gian, Bà đã đặt 4 cây trầm hương để trấn 4 phương, làm cho Khánh Hòa lúc nào cũng được thiên thời địa lợi nhân hòa (5).

Do vậy, trước khi đi “địu” (đi “điệu”) trên con đường gian nan “ngậm ngải tìm trầm”, người dân đều lập đàn long trọng để cúng bái, cầu xin Bà, cũng như luôn phải cẩn thận lời ăn tiếng nói trong khi đi rừng.

Hiện nay, trầm hương đã trở thành một sản vật đặc biệt, một thương hiệu quốc gia của Khánh Hòa nói riêng, Việt Nam nói chung trên trường quốc tế. Có  ý kiến cho rằng, trầm hương có thể trở thành một nhãn hàng độc quyền, đóng góp  lớn cho nền kinh tế đất nước giống như Nhân sâm và Nấm linh chi của Hàn Quốc, bò Kobe của Nhật Bản,... Theo thống kê, hiện nay tổng giá trị thị trường trầm hương toàn cầu ước tính lên tới hàng tỷ USD, trong đó riêng thị trường tinh chất (tinh dầu) trầm hương đã là khoảng 500 triệu USD (Nguyễn Duy Thái, 2024, tr. 129).

Do vậy, giá trị biểu tượng, ý nghĩa của Thánh Mẫu Thiên Y Ana với vai trò là Thánh Mẫu Trầm hương cũng là một nguồn lực văn hóa có thể khai thác, phát huy phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa.

2.4. Các nguồn lực văn hóa khác

Bên cạnh các nguồn lực văn hóa nêu trên, tại cụm di tích Tháp Bà Po Nagar còn có thể khai thác nhiều nguồn lực văn hóa khác. Đó là các loại đồ lưu niệm,  hàng hóa, sản vật đặc trưng của địa phương; các trình diễn dân gian gắn với di sản, mà tiêu biểu là những điệu múa Chăm (múa quạt, múa khăn, múa đội lu, múa chim công, múa gáo dừa, múa roi, múa chèo thuyền.,...); các hoạt động trình diễn nhạc cụ dân tộc Chăm, trang phục Chăm, nghệ thuật dệt thổ cẩm Chăm. Đó còn là văn hóa ẩm thực độc đáo của người Chăm và người Việt trên dải đất miền Trung. Hay các hoạt động, sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch gắn với di sản cũng là những nguồn lực văn hóa đầy tiềm năng.

Nhìn chung, tất cả những gì liên quan đến văn hóa, mang yếu tố văn hóa tại khu di tích Tháp Bà Po Nagar đều có thể sáng tạo, khai thác, trở thành các nguồn lực vô tận phục vụ cho phát triển du lịch tại địa phương.

3. Hiện trạng phát huy giá trị di sản Tháp Bà Po Nagar gắn với phát triển du lịch bền vững

Trong những năm qua, việc khai thác, phát huy các nguồn lực văn hóa tại khu di tích Tháp Bà Po Nagar đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Xét theo các tiêu chí của phát triển du lịch bền vững có thể rút ra một số nhận xét chính như sau:

Về kinh tế: Theo thống kê của Sở Văn hóa và Thể thao cũng như Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa, hàng năm, di tích và lễ hội Tháp Bà thu hút hàng trăm đoàn khách hành hương người Việt và người Chăm cũng như hàng triệu lượt du khách thập phương và quốc tế về chiêm bái, hành lễ, tham quan, trải nghiệm góp phần đóng góp đáng kể cho kinh tế của tỉnh. Số lượng du khách và doanh thu du lịch của địa phương tăng đều qua các năm (trừ thời gian diễn ra đại dịch Covid-19).

Ngoài đóng góp cho ngân sách của tỉnh, các hoạt động kinh tế đã giúp gia tăng thu nhập cho tất cả các bên liên quan: các doanh nghiệp du lịch và hỗ trợ du lịch, các tầng lớp nhân dân tham gia tổ chức, khai thác các hoạt động phụ trợ,..., qua đó góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân.

Về xã hội và văn hóa, các hoạt động tại di tích và lễ hội Tháp Bà tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn người lao động, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội. Hoạt động khai thác giá trị của di sản cũng tạo nguồn thu để chính quyền địa phương có kinh phí hỗ trợ công tác phúc lợi, an sinh xã hội, nâng cấp đường xá, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường văn hóa tại khu vực di sản.

Hiện nay, hoạt động thực hành nghi lễ, tổ chức lễ hội về cơ bản đã tôn trọng sự tham gia của cộng đồng người Chăm (thực hành một số nghi lễ cúng tế, trình diễn múa Chăm, nhạc cụ Chăm, trang phục Chăm tại khuôn viên di tích, kinh doanh sản phẩm, đồ lưu niệm, hàng hóa mang đặc trưng văn hóa Chăm,...), đồng thời có sự tham gia, chia sẻ, thực hành của người Việt, người Hoa và các dân tộc khác. Việc khai thác, phát huy giá trị di sản cả vật thể lẫn phi vật thể nhìn chung đã đảm bảo quyền văn hóa của các bộ phận dân cư trong xã hội.

Về môi trường: Quần thể di tích và môi trường sinh thái bao quanh về cơ bản được bảo vệ tốt. Công tác tu bổ, tôn tạo được thực hiện đúng quy định. Cảnh quan thiên nhiên được quan tâm chăm sóc với nhiều cây xanh cổ thụ, hoa cỏ xanh tươi, tạo nên một không gian sinh thái ít có di tích Chăm nào khác có được. 

Các hoạt động khai thác du lịch tại di tích về cơ bản đã cố gắng đảm bảo vấn đề vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, nước thải, khu vệ sinh, tạo nên một không gian tâm linh linh thiêng, quy củ, văn minh.

Tuy nhiên, cũng xét từ các tiêu chí của phát triển du lịch bền vững, việc khai thác, phát huy các giá trị, nguồn lực văn hóa của di sản cũng còn những hạn chế, bất cập có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững như:

Trên phương diện kinh tế, việc khai thác, phát huy giá trị di sản vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có. Công tác thuyết minh, giới thiệu, chuyển tải các giá trị của di sản đến công chúng còn đơn điệu, thiếu sinh động, hấp dẫn, nên đa phần du khách và tín đồ tự đi tham quan, trải nghiệm, bỏ qua sự thuyết minh, hướng dẫn của đội ngũ nhân viên trong khu di tích. Các hoạt động, dịch vụ, sản phẩm du lịch gắn với di tích còn nghèo nàn, thiếu bản sắc so với các khu du lịch văn hóa Chăm khác. Do vậy, việc mua sắm đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, sản phẩm đặc trưng liên quan đến di sản của du khách còn khá khiêm tốn.

Trên phương diện văn hóa - xã hội, việc bảo vệ di sản văn hóa và các giá trị truyền thống chưa hoàn toàn đảm bảo tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương. Đơn cử, một số “sáng tạo truyền thống”, thay đổi trong thực hành nghi lễ, tổ chức lễ hội đã làm ảnh hưởng đến bản chất, ý nghĩa của lễ hội Tháp Bà vốn gắn bó mật thiết với văn hóa, tôn giáo của người Chăm. Vai trò của cộng đồng Chăm khá là mờ nhạt trong diễn trình lễ hội, trong khi vai trò, sự tham gia của người Việt có phần lấn lướt. Chẳng hạn, sự tham gia của các sư cả, tu sĩ, các vị chức sắc Chăm trong nghi lễ cúng tế rất khiêm tốn, khác hẳn với các lễ hội khác của người Chăm như lễ hội Katé, lễ hội Cambur ở các địa phương.

Cùng với sự hỗn dung tôn giáo và vai trò cộng đồng chủ thể của người Việt, lễ hội Tháp Bà đã mang một màu sắc mới, ý nghĩa mới. Do vậy, đối với cộng đồng chủ nhân người Chăm di sản đã phần nào mất đi tính thiêng và họ chuyển sang tổ chức các lễ hội “đích thực của mình” ở các đền tháp khác (như Po Klaong Girai, Po Rome ở Ninh Thuận). Việc thay xiêm y cho Bà lẽ ra phải do người Chăm hay ít ra là đại diện của cả hai cộng đồng thực hiện, chứ không phải chỉ toàn do người Việt tiến hành. Trong đền tháp Chăm theo tục lệ không thắp hương nghi ngút ảnh hưởng đến chất lượng của tháp, mà chỉ dùng một loại nến bằng sáp ong thắp dâng lễ. Việc bài trí trong tháp cũng còn những bất cập chưa tôn trọng đầy đủ văn hóa của người Chăm. Tại khu vực đền tháp linh thiêng người Chăm cũng không khuyến khích tổ chức các hoạt động ca múa như múa lân, múa tuồng, hay múa lõa thể Apsara, v.v...

Việc khai thác, phát huy giá trị di sản cũng chưa đảm bảo công bằng về cơ hội việc làm và thu nhập cho toàn thể cộng đồng, mới tập trung vào một số đối tượng nhất định, dễ dẫn đến sự bất bình đẳng trong hưởng lợi từ di sản, do đó không khuyến khích người dân cùng chung tay bảo vệ di sản.

Trên phương diện môi trường, tình trạng giữ gìn vệ sinh chung, ô nhiễm môi trường vẫn còn những hạn chế. Việc xử lý rác, chất phế thải, nhất là trong thời gian lễ hội còn những bất cập do quá tải. Công tác xử lý chất thải rắn, nhất là bao nilon, chai nhựa, ống hút,... chưa đúng quy định, chưa thực sự là phát triển bền vững.

4. Một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy các nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển du lịch bền vững tại Tháp Bà Po Nagar

Từ hiện trạng nêu trên, bài viết xin góp bàn một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn lực văn hóa tại khu di sản như sau:

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác, phát huy giá trị của di sản. Trước hết, cần đổi mới, kiện toàn phương thức, chất lượng thuyết minh, giới thiệu về di sản (kết hợp các thành tựu mới của khoa học, công nghệ: thuyết minh bằng audio, video, phim 3D, trình diễn di sản sống,...).

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch gắn với di tích và lễ hội Tháp Bà. Thiết  kế các đồ lưu niệm độc đáo, mang bản sắc riêng của khu di tích; gia tăng các sản phẩm đặc trưng, đặc sản của địa phương (đồ gốm, sản phẩm thổ cẩm của người Chăm, nem Ninh Hoà, yến sào Nha Trang, chả cá hấp, bong bóng cá, bánh xoài...). Đẩy mạnh quảng bá sản phẩm trầm hương Khánh Hòa gắn với biểu tượng Thánh Mẫu Trầm Hương không chỉ với du khách trong nước mà quan trọng là với khách quốc tế (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ,...). Khai thác mô hình thu nhỏ Tháp Bà hoặc các đền tháp khác trong quần thể di tích thành các đồ lưu niệm, tranh ảnh đa dạng về chất liệu, hình thức, kiểu dáng (nên tham khảo kinh nghiệm các nước có di sản tương tự).

Kết nối, xây dựng các “tour”, tuyến phù hợp gắn với các hoạt động khám phá, nghiên cứu, vui chơi, giải trí, tắm biển, nghỉ dưỡng,... để có thể kết nối nhiều mục đích du lịch của du khách.

Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch trên thị trường trong nước và quốc tế. Nâng cao chất lượng truyền thông, giới thiệu về di sản bằng nhiều hình thức và ngoại ngữ khác nhau. Bên cạnh các hình thức truyền thống như báo chí, phát thanh, truyền hình, sách mỏng, tập gấp, tờ rơi, phim ảnh, bài viết,... cần tận dụng các phương tiện truyền thông mới trên nền tảng Internet, mạng xã hội.

Hai là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạt động, khai thác du lịch ở tất cả các khâu: Ban quản lý di tích; Ban tổ chức lễ hội; các công ty du lịch; người dân tham gia khai thác các dịch vụ liên quan. Trước hết, cần nâng cao chất lượng, kỹ năng của đội ngũ thuyết minh viên, hướng dẫn viên tại di tích. Tiếp đó, cần nâng cao năng lực, chất lượng của các công ty lữ hành, vận chuyển du lịch, các khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi, giải trí. Đặc biệt, cần nâng cao năng lực của người dân trong phát triển du lịch đáp ứng yêu cầu của các phân khúc du khách khác nhau, nhất là du khách tới từ các nước phát triển (khả năng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, văn hóa ứng xử trong khai thác du lịch).

Ba là, cân đối hài hòa sự tham gia vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản giữa cộng đồng chủ thể người Chăm với cộng đồng người Việt và các cộng đồng khác. Tham khảo ý kiến của các chức sắc, người thực hành tôn giáo Chăm về nghi lễ, nghi thức, tri thức liên quan. Quan tâm chia sẻ lợi ích một cách công bằng trong các bộ phận dân cư để khuyến khích sự tham gia vào các hoạt động, dịch vụ du lịch cũng như bảo vệ giá trị di sản.

Bốn là, chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên trong quá trình phát triển du lịch. Xử lý tốt các chất thải từ hoạt động du lịch ra môi trường. Tăng cường sử dụng các nguyên, vật liệu từ thiên nhiên, thân thiện với môi trường (dùng bao gói bằng giấy, lá cây, túi sinh học tự hủy thay vì túi nilon, chai nhựa, sợi tổng hợp, ống hút nhựa, thìa dĩa nhựa khó tiêu hủy). Cân nhắc việc đốt nhiều vàng mã do người Việt mang đến trong một di tích tiểu biểu của văn hóa Chăm, vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa dễ gây hỏa hoạn, cháy nổ.

Năm là, việc tu bổ, tôn tạo di tích những năm qua đã có nhiều cố gắng, nhưng vẫn cần rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng, đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc của trùng tu, tôn tạo di tích. Hiện nay, mặc dù đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm, nghiên cứu, thử nghiệm, nhưng những chất liệu, cấu kiện mới lắp ghép vào các di tích cũ vẫn còn khá lộ liễu, khác biệt, gây cảm quan xấu cho du khách có trình độ, hiểu biết. Cần tham khảo cách thức, chất liệu tu bổ, tôn tạo các đền tháp Chăm tại khu thánh địa Mỹ Sơn để có cách xử lý hiệu quả hơn.

Sáu là, để tránh tình trạng quá tải trong thời gian lễ hội và những dịp cao điểm, cần có một quy hoạch tổng thể đảm bảo trật tự, quy củ, rõ ràng cho các không gian tổ chức lễ hội: Khu vực thờ tự phải đảm bảo tính trang nghiêm, linh thiêng (hiện nay ngoài việc thờ cúng ở khu trung tâm, thì người dân còn tổ chức thờ cúng khắp nơi xung quanh, dễ gây nên cảnh nhốn nháo, mất trật tự, xả rác bừa bãi, cũng như có thể làm ảnh hưởng đến các công trình kiến trúc); Khu vực biểu diễn nghệ thuật; Khu vực triển lãm, gian hàng, hội chợ; Khu vực tổ chức các trò chơi; Khu dịch vụ (trông giữ phương tiện vận chuyển, ăn uống, vệ sinh và các dịch vụ bổ trợ khác). Những khu vực này nên bố trí cách xa khu thực hành nghi lễ, tránh tình trạng nhộn nhạo, làm mất mỹ quan, ảnh hưởng đến sự linh thiêng của không gian thờ tự.

Bảy là, xây dựng văn hóa ứng xử nơi di tích và lễ hội. Nha Trang là thành phố biển rất thu hút du khách trong nước và quốc tế, khách nước ngoài đến Tháp Bà khá đông. Bên cạnh việc khuyến khích thái độ ứng xử đẹp, thân thiện, hiếu khách của người dân thì để kích cầu mua sắm, tiêu dùng nên khuyến khích việc niêm yết giá rõ ràng, thống nhất giá cả, tránh nói thách, buôn bán chụp giật kiểu một lần khiến du khách nước ngoài e ngại. Cũng cần có nội quy, quy định và giám sát thường xuyên để người Việt Nam thăm viếng di tích và lễ hội có cách hành xử văn minh, văn hóa, tạo ấn tượng tốt trong lòng du khách quốc tế cũng như hình ảnh đẹp về thành phố Nha Trang.

Kết luận

Khu di tích Tháp Bà Po Nagar là điểm hội tụ các giá trị truyền thống cũng như tinh thần khoan dung văn hóa trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt - Chăm, góp phần gia tăng tính cố kết cộng đồng của các dân tộc Việt Nam.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đặc sắc, Tháp Bà và lễ hội Tháp Bà Po Nagar là nguồn lực văn hóa đầy tiềm năng để địa phương  khai thác, phát triển du lịch. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của di sản, nhất là gắn với các yêu cầu của phát triển du lịch bền vững.

Do vậy, để khai thác hiệu quả các tiềm năng, nguồn lực du lịch này rất cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp chính quyền, các Sở, ngành liên quan, các doanh nghiệp, tổ chức cũng như các cộng đồng cư dân địa phương./.

T.T.L

(Tạp chí Văn hóa học, số 3 (73) - 2024)

____________________

1. Theo các nguồn thư tịch, trước đây tượng được làm bằng gỗ trầm hương và trước nữa là bằng vàng. Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã lấy đi mất đầu tượng, hiện nay đầu tượng được làm bằng gỗ quý gắn vào thân tượng đá.

2. Sắc phong Minh Mệnh năm thứ 3 (1922) và sắc phong Khải Định năm thứ 9 (1924).

3. Tương truyền, nữ thần Po Nagar theo tín ngưỡng phồn thực của người Chăm không mặc quần áo. Hiện nay người Việt đã cho nữ thần mặc xiêm y khá diêm dúa và có nghi lễ thay y hàng năm.

4. Các bài văn tế của người Chăm nói về sự tích nữ thần Po Nagar như sau: “Sinh ra đất đai, sinh ra con người/Sinh ra gỗ trầm hương là nữ thần Po Inư Nagar/ Sinh ra vạn vật ở trên đời” (Dẫn theo Nguyễn Duy Thái, 2024, tr. 109).

5. Một ở suối Ngổ trấn phía Đông, một ở Hòn Dữ (Diên Khánh) trấn phía Tây, một ở Đồng Bò trấn phía Nam và một ở Hòn Bà (Ninh Hòa) trấn phía Bắc.

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Thị Mai Anh (2020), “Văn hoá, nguồn lực cho phát triển bền vững”, Tạp chí Cộng sản, số tháng 11.

Clark, William; Harley, Alicia (2020), “Sustainability Science: Toward a Synthesis”, Annual Review of Environment and Resources, 45 (1): 331, doi:10.1146/annurev-environ-012420-043621. 

Ngô Văn Doanh (1995), Tháp cổ Champa, sự thật và huyền thoại, Viện Đông Nam Á - Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

Lê Quý Đức, “Nguồn lực văn hóa và vai trò của nguồn lực văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 (142) năm 2012.

Vũ Văn Hiền (2014), Phát triển bền vững ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/25248/phat-trien-ben-vung-o-viet-nam.aspx, đăng ngày 03-01-2014.

Inrajaka (2017), Hành trình văn hóa Chăm, Nxb. Văn hóa dân tộc.

Nguyễn Văn Khánh chủ biên (1999), Văn hóa phi vật thể Khánh Hòa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Khánh Hòa - địa chỉ văn hóa và danh thắng (2007), Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Khánh Hòa xuất bản, Khánh Hòa.

Nguyễn Văn Kự (2008), Di sản văn hóa Chăm, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

 Từ Thị Loan (2022), “Khai thác giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững”, in trong sách Văn hóa Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 386-399.

 Những tục thờ và lễ hội tiêu biểu của Khánh Hòa (2007), Sở Văn hóa - Thông tin Khánh Hòa xuất bản, Khánh Hòa.

 Sakaya (2010), Văn hóa Chăm - nghiên cứu và phê bình, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.

 Nguyễn Duy Thái (2024), Văn hóa trầm hương Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

 Nguyễn Toàn Thắng, “Nguồn lực văn hoá trong phát triển kinh tế xã hội”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 384-2016; Trần Thị An, “Vốn văn hóa với tư cách là một nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, tháng 1-2017; Nguyễn Thị Mai Anh, “Văn hoá, nguồn lực cho phát triển bền vững”, Tạp chí Cộng sản, tháng 11-2020; Từ Thị Loan, “Vốn văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa học số 1 (65)-2023.

 Đỗ Hồng Thuận (2015), Phát triển du lịch bền vững - Đâu là giải pháp cho Việt Nam? http://vns.hnue.edu.vn//Tư-liệu/Địa-Du-lịch/p/10430, đăng ngày 29-11-2015.      

 https://nhatrangtoday.vn.

https://kinhtedothi.vn

Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học số 3 (73)

Năm phat hanh: 2024
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận