Chuyển đổi tư duy đối với di sản văn hóa biển trong chính sách văn hóa ở Nhật Bản hiện nay

Ngày đăng: 13/10/2026 Lượt xem: 126
Mặc định Cỡ chữ

CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA BIỂN TRONG CHÍNH SÁCH VĂN HÓA

Ở NHẬT BẢN HIỆN NAY

TS. Chu Xuân Giao


Nhật Bản là một quốc đảo (đất nước được hình thành từ khoảng bảy ngàn hòn đảo lớn nhỏ), nên văn hóa biển nói chung, và di sản văn hóa biển (tài sản văn hóa biển) nói riêng, được đặc biệt coi trọng. Về di sản văn hóa biển ở Nhật Bản, cần phải có những nghiên cứu lâu dài, bài viết này chỉ đưa ra những nét khái quát về chính sách nhà nước của Nhật Bản đối với di sản văn hóa biển. Khái quát này được đặt trong bối cảnh chung là chính sách nhà nước của Nhật Bản đối với di sản văn hóa (tài sản văn hóa). [*]Không thể nhận diện chính sách đối di sản văn hóa biển nếu không có hiểu biết mang tính nền tảng về chính sách đối với di sản văn hóa nói chung của Nhật Bản. Đặc biệt, với mục đích hướng đến việc học tập kinh nghiệm quản lí và phát huy di sản văn hóa biển cho Việt Nam, bài viết muốn nhấn mạnh đến những chuyển đổi quan trọng trong tư duy đối với di sản văn hóa biển trong chính sách quản lí văn hóa, nhất là những vận động mang tính sáng tạo gần đây.

Tài sản Văn hóa và Di sản Văn hóa

Trong lĩnh vực quản lí văn hóa ở Nhật Bản, có hai thuật ngữ quan trọng hàng đầu là Tài sản văn hóa, và Di sản văn hóa. Nguyên tiếng Nhật là Bunka-zai文化財 (âm Hán Việt là văn hóa tài), và Bunka-ishan 文化遺産 (văn hóa di sản). Dịch sang tiếng Anh thì các tài liệu chính thức hay tài liệu của các nhà chuyên môn sẽ dùng “cultural properties” cho Tài sản văn hóa, và dùng “cultural heritage” cho Di sản văn hóa [Baba 2001; Cục Văn hóa 2011, 2012; Chu Siêu 2012]. Cũng có khi “cultural properties” được thay bằng “cultural assets”, và “cultural heritage” thì được rút gắn thành “heritage” [Liêu Lê Khanh 1993; Cục Văn hóa 2015b, 2016]. Như vậy, về đại thể, một bên là “properties” hay “assets” (tài sản), và một bên là “heritage” (di sản).

Giữa “tài sản văn hóa” và “di sản văn hóa”, trong môi trường tiếng Nhật, có sự khác nhau như thế nào? Về điểm này, từ thập niên 1990, chuyên gia lâu năm của UNESCO là Kono đã đưa ra một khái quát như sau: “tài sản văn hóa” là chỉ các vật, các thứ cụ thể; còn “di sản văn hóa” là khái niệm mang tính tổng hợp hơn, trừu tượng hơn [Kono 1995]. Khác nhau giữa hai cái (từ đây trở xuống sẽ viết tắt “tài sản văn hóa” thành TSVH, và “di sản văn hóa” DSVH), theo Kono, thực chất là do khác nhau ở góc nhìn: một cái thì nhấn mạnh vào việc “bảo tồn” (TSVH), còn một cái thì nhấn mạnh vào việc “công khai” và “sử dụng” (DSVH). TSVH là vật có giá trị văn hóa cao mà được cơ quan nhà nước công nhận. Giá trị văn hóa đó có ý nghĩa làm giàu thêm cho cuộc sống của cá nhân và tập thể về mặt tinh thần. Nhờ đó, TSVH được chỉ định là “vật cần phải bảo tồn”. Trong TSVH cùng một lúc bao chứa hai vận động như sau: 1). Trở thành “vật cần phải trao truyền” một cách tuần tự từ thế hệ cha ông cho thế hệ con cháu. Đó là việc trao truyền qua thời gian, nên có tính liên tục theo chiều thẳng đứng; 2). Đồng thời, cũng là “vật cần phải cùng hưởng thụ”, từng cá nhân đều được hưởng thụ một giá trị đồng nhất, nên có tính liên đới theo chiều ngang, hay là liên đới mang tính không gian. Suy nghĩ từ các mối liên đới theo chiều thời gian hay theo chiều không gian như vậy, thì sẽ có hai khả năng như sau: 1) Nếu điểm nhìn nhấn mạnh tới phương diện tĩnh hay phương diện là vật (vật thể, đồ vật) cần bảo tồn, thì sẽ gọi là TSVH; 2) Nếu điểm nhìn nhấn mạnh tới phương diện động hay phương diện là việc (sự việc, vận động) kết nối người với người, thì sẽ gọi là DSVH.

Một chuyên gia khác về DSVH là Baba, từ góc nhìn sử học, bổ sung thêm rằng, DSVH là khái niệm rộng hơn, bản thân nó đã bao gồm cả TSVH. TSVH thì chỉ là những vật thể được công nhận và đăng kí theo Luật Bảo hộ Tài sản Văn hóa và Điều lệ Bảo hộ Tài sản Văn hóa, còn DSVH thì chỉ toàn bộ những sản phẩm của quá trình hoạt động văn hóa của con người. DSVH là “văn hóa của quá khứ cần phải được kế thừa để hướng đến sự phát triển của văn hóa trong tương lai”, là “thứ được truyền thụ cho đời sau”, mang tính động thái và là tồn tại cực kì hữu ích trong cuộc sống của con người [Baba 2001 : 35]. 

Vào những thập niên đầu thế kỉ XXI, TSVH ở cảm thức tiếng Nhật nói chung thì được xem là thuật ngữ mang tính hành chính nhà nước, được sử dụng như thuật ngữ pháp lệnh chặt chẽ dựa trên Luật Bảo hộ Tài sản Văn hóa (từ đây viết tắt là Luật Bảo hộ TSVH). Còn DSVH thì được xem như là thuật ngữ mang tính cởi mở, bao quát hơn, tự do hơn, gắn với xã hội thị dân. Bản thân phía cơ quan hành chính nhà nước, mà tiêu biểu nhất là Cục Văn hóa của chính phủ Nhật, cũng sử dụng DSVH (vốn quen dùng trong xã hội thị dân cởi mở) như một thuật ngữ có thể thay thế được trong nhiều trường hợp cho TSVH (vốn quen dùng trong hành chính chặt chẽ) [Baba 2012]. Có khi thấy văn bản do Cục văn hóa phát hành ghi TSVH rồi mở ngoặc ghi thêm DSVH, hay ngược lại.

Tựu trung, hai thuật ngữ TSVH và DSVH hết sức gần gũi với nhau, trong một số trường hợp thì chúng có thể sử dụng hoán đổi cho nhau được. Điểm khác biệt quan trọng giữa chúng là: TSVH là thuật ngữ chặt chẽ liên quan đến luật pháp bảo hộ DSVH, còn DSVH là thuật ngữ cởi mở hơn và gắn với xã hội thị dân nói chung. Khi nhấn mạnh đến việc quản lí nhà nước trong bảo tồn thì dùng TSVH, khi nhấn mạnh đến việc phát huy (khai thác, công khai, sử dụng) trong xã hội đương đại thì dùng DSVH. Rõ ràng, trên phương diện quản lí nhà nước thì, thuật ngữ “TSVH” và văn bản “Luật Bảo hộ TSVH” (qua nhiều lần chỉnh sửa) là cái mang tính cương lĩnh hay nền tảng, còn thuật ngữ “DSVH” và các chương trình liên quan đến DSVH là cái mang tính mở rộng và linh hoạt. Để có hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa TSVH và DSVH, thì cần thiết phải trở lại với việc tìm hiểu Luật Bảo hộ TSVH qua quá trình xây dựng và phát triển của nó.

Bảo hộ và phát huy giá trị di sản văn hóa: luật hóa và liên tục cập nhật những chuyển đổi về quan điểm

Chính sách bảo hộ và phát huy di sản văn hóa của Nhật Bản (trong đó có di sản văn hóa biển) được kết tinh thành Luật Bảo hộ Tài sản Văn hóa 文化財保護法 (Luật Bảo hộ TSVH).Luật này trong nguyên bản tiếng Nhật là Bunkaza-hogo-ho (âm Hán Việt là văn hóa tài bảo hộ pháp), tiếng Anh là Law for the Protection of Cultural Properties.

Luật Bảo hộ TSVH được quốc hội Nhật Bản ban hành vào ngày 29-8-1950 (năm Chiêu Hòa 25), sau sự kiện chùa Pháp Long (法隆寺) gặp đại hỏa hoạn vào tháng 1 năm 1949. Đây là luật tổng quát đầu tiên ở Nhật Bản về bảo hộ tài sản văn hóa. Trước đó, ở Nhật Bản, từng có các luật hay hướng dẫn cấp quốc gia như: Phương pháp bảo tồn cổ khí cựu vật (古器旧物保存方) ban hành năm 1871 (Minh Trị 4), Luật Bảo tồn đền chùa cổ (古社寺保存法) ban hành năm 1897 (Minh Trị 30), Luật Bảo tồn di tích lịch sử, danh thắng và vật kỉ niệm thiên nhiên (史蹟名勝天然紀念物保存法) ban hành năm 1919 (Đại Chính 9), Luật Bảo tồn quốc bảo国宝保存法ban hành năm 1929 (Chiêu Hòa 4), Pháp luật về việc bảo tồn tài sản mĩ thuật trọng yếu (重要美術品等ノ保存ニ関スル法律) ban hành năm 1933 (Chiêu Hòa 8). Luật Bảo hộ TSVH ra đời đã thống nhất toàn bộ các văn bản luật hay hướng dẫn trước đó. Từ khi ra đời, để cập nhật với những biến đổi thời cuộc, Luật Bảo hộ TSVH luôn được chỉnh sửa cho phù hợp với thực tiễn trong khoảng 70 năm qua (1).

Có thể điểm những lần chỉnh sửa bổ sung chính yếu của Luật Bảo hộ TSVH từ khi ra đời có đến nay như sau:

(1). Năm 1950 (Chiêu Hòa 25), Luật Bảo hộ TSVH được ban hành, Ủy ban Bảo hộ TSVH (文化財保護委員会=Committee for the Protection of Cultural Properties) được thành lập. Chỉnh sửa qui chế chỉ định về quốc bảo (国宝 = national treasures)và tài sản văn hóa trọng yếu (重要文化財=important cultural properties). Đặt mới các qui chế về tài sản văn hóa phi vật thể (無形文化財=intangible cultural properties) và tài sản văn hóa chôn dưới lòng đất (埋蔵文化財=buried cultural properties).

(2). Năm 1954 (Chiêu Hòa 29), chỉnh sửa 3 điểm chính như sau: a. Bổ sung qui chế về bảo hộ tài sản văn hóa phi vật thể (đặt mới qui chế về TSVH phi vật thể trọng yếu, đặt mới qui chế về tuyển chọn TSVH phi vật thể); b. Bổ sung qui chế về bảo hộ tài sản văn hóa chôn dưới lòng đất (tách TSVH chôn dưới lòng đất ra khỏi phạm vi của TSVH vật thể有形文化財/tangible cultural properties; đặt mới qui chế đệ trình đơn khai quật trước khi tiến hành khai quật); c. Bổ sung qui chế về bảo hộ tư liệu dân gian 民俗資料/folk materials (tách tư liệu dân gian ra khỏi phạm vi TSVH vật thể; đặt mới qui chế về tư liệu dân gian trọng yếu; đặt mới qui chế về tuyển chọn tư liệu dân gian phi vật thể)

(3). Năm 1968 (Chiêu Hòa 43), Cục Văn hóa (文化庁=Agency for Cultural Affairs) được thành lập, đồng thời Ủy ban Thẩm định Tài sản Văn hóa (文化財審議会=Council for the Protection of Cultural Properties) ra đời.

(4). Năm 1975 (Chiêu Hòa 50), chỉnh sửa 4 điểm chính như sau: a. Chỉnh lí qui chế về TSVH chôn dưới lòng đất (đưa qui chế đặc biệt trong trường hợp các cơ quan nhà nước phát hiện ra di tích; chỉnh lí qui chế bảo vệ trong trường hợp phát hiện di tích khi đang thi công); b. Bổ sung qui chế về bảo vệ TSVH dân gian 民俗文化財/folk cultural properties (đổi thuật ngữ “tư liệu dân gian” thành “tài sản văn hóa dân gian”; đổi “tư liệu dân gian trọng yếu” thành “tài sản văn hóa dân gian vật thể”; đặt mới qui chế về “tài sản văn hóa dân gian phi vật thể”); c. Đặt mới qui chế về “vùng bảo tồn quần thể kiến trúc truyền thống 伝統的建造物群保存地区/preservation districts for groups of traditional buildings” (đặt mới qui chế về “vùng bảo tồn quần thể kiến trúc truyền thống”, và bảo vệ môi trường làm hình thành “vùng bảo tồn quần thể kiến trúc truyền thống”); d. Đặt mới qui chế về lưu giữ các kĩ thuật bảo tồn di sản văn hóa 文化財保存の技術/conservation techniques for cultural properties (đặt mới qui chế về việc chọn lựa các kĩ thuật bảo tồn).

(5). Năm 1996 (Bình Thành 8), đặt mới qui chế về đăng kí TSVH 文化財登録制度/system of registered cultural properties (qui chế này hướng dẫn việc đăng kí TSVH đối với tất cả các di sản văn hóa thuộc loại hình di sản kiến trúc mà chưa được chính phủ hay các đoàn thể công quyền ở địa phương công nhận. Việc đăng kí là với mục đích để được bảo tồn. Nhưng chỉ hạn chế vào di sản kiến trúc建造物/traditional buildings).

(6). Năm 1999 (Bình Thành 11), đưa qui định về việc chuyển nhượng quyền hạn cho các thành phố trực thuộc trung ương, các tỉnh, các phủ (phủ là cấp hành chính gồm một số tỉnh, thành phố), và thủ đô (Tokyo). Cải tổ Ủy ban Thẩm định Tài sản Văn hóa thành Ủy ban Thẩm định Văn hóa (文化審議会=Council for Cultural Affairs).

(7). Năm 2004 (Bình Thành 16), chỉnh sửa 3 điểm chính sau: a. Đặt mới qui chế về bảo hộ cảnh quan văn hóa 文化的景観/cultural landscapes (đặt mới qui chế cho việc tuyển chọn cảnh quan văn hóa trọng yếu重要文化的景観/important cultural landscapes); b. Mở rộng phạm vi bảo hộ tài sản văn hóa dân gian (qui chế hóa việc bảo hộ kĩ thuật dân gian民俗技術/folk techniques); c. Mở rộng qui chế đăng kí TSVH (mở rộng đối tượng được đăng kí ra ngoài di sản kiến trúc, để bao gồm cả TSVH vật thể, TSVH dân gian vật thể, vật kỉ niệm).

Qua rất nhiều lần chỉnh sửa bổ sung, đến năm 2016, TSVH theo Luật Bảo hộ TSVH qui định bao gồm 6 nội dung sau (trong mỗi nội dung lại gồm nhiều tiểu loại).

(1). TSVH vật thể: gồm các công trình kiến trúc, tranh, điêu khắc, công nghệ phẩm, điển tịch, thư tích, văn thư cổ.

(2). TSVH phi vật thể: gồm kịch nghệ trò diễn, âm nhạc, kĩ thuật công nghệ, và những tài sản phi vật thể khác.

(3). TSVH dân gian: gồm hai bộ phần: a. Các phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian, kĩ thuật dân gian gắn với ăn mặc ở, sinh kế, tín ngưỡng, lễ hội trong năm; b. Các vật thể được sử dụng vào các hạng mục kể trên, như y phục, đạo cụ, nhà cửa.

(4). Vật kỉ niệm: gồm di tích (mộ cổ, dấu tích thành thị, thành cổ, nhà cũ), danh lam thắng cảnh (vườn, cầu, khe núi, bãi biển, núi đồi), vật kỉ niệm tự nhiên /thiên nhiên (động vật, thực vật, khoáng vật).

(5). Cảnh quan văn hóa: gồm ruộng bậc thang, cảnh núi đồi, đường dẫn nước,…

(6). Cụm công trình kiến trúc truyền thống: gồm phố nhà trọ, phố mở trước cổng thành, làng ngư nghiệp, làng nông nghiệp,..

(7). Kĩ thuật bảo tồn TSVH: gồm kĩ thuật và nguyên vật liệu liên quan.

(8). TSVH chôn dưới lòng đất

Về số lượng TSVH, tính đến thời điểm ngày 1-8-2016 (Bình Thành 28), theo thống kê của Cục Văn hóa thì có các mảng lớn như sau.

- Mảng thứ nhất là Quốc bảo và TSVH trọng yếu được nhà nước chỉ định (công nhận). Có 1.097 đơn vị Quốc bảo, và 13.068 đơn vị TSVH trọng yếu (các đơn vị Quốc bảo cũng được tính vào TSVH trọng yếu). Mảng này được chia làm 2 phần là Mĩ thuật công nghệ phẩm và Công trình kiến trúc.

- Mảng thứ hai là Sử tích - Danh thắng - Vật kỉ niệm thiên nhiên được nhà nước chỉ định. Tổng số là 3.719 đơn vị, trong đó sử tích là 1.760, danh thắng là 398, và vật kỉ niệm thiên nhiên là 1021. Trong mỗi tiểu liệu trên lại có những đơn vị được xếp loại đặc biệt: sử tích đặc biệt (61 đơn vị), danh thắng đặc biệt (36), vật kỉ niệm thiên nhiên đặc biệt (75).

- Mảng thứ ba là TSVH phi vật thể trọng yếu được nhà nước chỉ định. Có 112 cá nhân (cá nhân lưu giữ kĩ thuật và nghệ thuật) và 27 đoàn thể (đoàn thể lưu giữ kĩ thuật và nghệ thuật) được chỉ định.

- Mảng thứ tư là TSVH dân gian vật thể trọng yếu được nhà nước chỉ định. Có 217 đơn vị.

- Mảng thứ năm là TSVH dân gian phi vật thể trọng yếu được nhà nước chỉ định. Có 296 đơn vị.

- Mảng thứ sáu là các TSVH được nhà nước tuyển định (chọn lựa để chỉ định): 1). Cảnh quan văn hóa trọng yếu (50 đơn vị); 2). Khu bảo tồn các công trình kiến trúc trọng yếu (112 đơn vị); 3). Kĩ thuật bảo tồn được tuyển chọn (56 cá nhân tức cá nhân lưu giữ kĩ thuật, và 31 đoàn thể tức đoàn thể lưu giữ kĩ thuật).

- Mảng thứ bảy là các TSVH ở dạng đã đăng kí: 1). Vật kỉ niệm (98 đơn vị); 2). TSVH vật thể dạng kiến trúc (10.516 đơn vị); 3). TSVH vật thể dạng mĩ thuật công nghệ phẩm (14 đơn vị); TSVH dân gian vật thể (42 đơn vị).

Bên cạnh 8 nội dung trong thuyết minh về nội hàm của TSVH theo luật pháp Nhật Bản, và các mảng TSVH được nhà nước chỉ định (hay tuyển chọn, đăng kí) được liệt kê ở trên, còn có một mảng TSVH quan trọng gọi là TSVH thế giới, hay là di sản thế giới (世界の文化財、世界の遺産=world cultural heritage, world heritage) ở Nhật Bản được UNESCO thẩm định và công nhận. Hiệp ước về di sản thế giới (World Heritage Convention) đã được thông qua năm 1972 trong Đại hội UNESCO tại Paris nhằm mục đích bảo hộ các di sản văn hóa (humanity cultural) và di sản tự nhiên (natural heritage) trên toàn thế giới. Tính đến tháng 8-2016, trong tổng số 1.052 đơn vị di sản trên toàn thế giới, thì Nhật Bản có 4 đơn vị di sản tự nhiên và 16 đơn vị di sản văn hóa. Di sản đầu tiên được công nhận là vào năm 1993 (Bình Thành 5).

Đặc biệt, trong những năm gần đây, từ kinh nghiệm thực tiễn trong nước vô cùng phong phú trong lĩnh vực TSVH (DSVH), kết hợp với những vận động từ UNESCO và nước ngoài, Nhật Bản đưa ra một chương trình mang tên Di sản Nhật Bản (日本遺産= Japan Heritage). Đây là một chương trình mang tính sáng tạo, sau một thời gian chuẩn bị đã chính thức hoạt động từ năm 2015 [Cục Văn hóa 2015b]. Theo thuyết minh của những người khởi xướng chương trình, thì tính sáng tạo nằm ở chỗ đã có một sự chuyển đổi quan trọng như sau trong tư duy về TSVH (DSVH): từ lấy điểm sang lấy diện, từ lấy bảo tồn sang phát huy làm bản vị. Cụ thể như sau:

- Trước nay, chính sách quản lí TSVH nhấn mạnh đến từng điểm (từng đơn vị cụ thể). Còn chương trình Di sản Nhật Bản thì nhấn mạnh đến diện (tức tới tính toàn thể, tính liên đới giữa các đơn vị cụ thể, để làm sao kết cấu chúng thành một câu chuyện);

- Trước nay, chính sách quản lí TSVH nhấn mạnh vào việc bảo tồn, cho nên hầu như không truyền đạt được đầy đủ sự hấp dẫn của các địa phương. Còn chương trình Di sản Nhật Bản thì đặt trọng tâm vào việc phát huy, bằng cách quảng bá TSVH trong sự liên đới chỉnh thể, thúc đẩy việc thương hiệu hóa địa phương và việc tái nhận thức về bản sắc địa phương.

Chương trình Di sản Nhật Bản hướng đến việc xây dựng một hệ thống các “câu chuyện” (story). Các câu chuyện ấy phải thỏa mãn đủ cả 3 yêu cầu sau:

1). Có thể kết nối, chỉnh thể hóa các TSVH đang nằm rải rác trong địa phương lại với nhau thành câu chuyện;

2). Có thể phát huy một cách chỉnh thể toàn khu vực;

3). Có tính loan sóng (quảng bá, phát sóng) một cách hiệu quả và tích cực ra toàn quốc và ra thế giới.

Chương trình đưa ra hai loại hình cho Di sản Nhật Bản, gồm: 1). Loại hình khu vực (地域型=local category) câu chuyện được gói gọn trong một địa phương (một thành phố, thị trấn, làng); 2). Loại hình liên khu vực (シリアル型=collective category) thì trải rộng qua nhiều địa phương (câu chuyện kết nối qua nhiều thành phố, thị trấn, làng).

Từ năm 2015 đến nay, đã có 37 câu chuyện được Cục Văn hóa tuyển chọn (từ hồ sơ đệ trình của địa phương) và công nhận là Di sản Nhật Bản.

Theo chúng tôi, chương trình Di sản Nhật Bản là một sáng tạo mới trong công tác quản lí DSVH ở Nhật Bản, đồng thời, đó cũng chính là một bổ khuyết quan trọng cho chính sách quản lí trước nay được kết tinh trong Luật Bảo hộ TSVH. Từ chương trình Di sản Nhật Bản này, trong nhận thức về DSVH Nhật Bản nói chung và DSVH biển Nhật Bản nói riêng, chúng ta sẽ thấy được rõ hơn hai cặp đôi thuật ngữ quan trọng: điểm và diện, bảo tồn và phát huy.

Di sản văn hóa biển trong nhận thức mới từ chương trình Di sản Nhật Bản

Đối với DSVH biển Nhật Bản, bây giờ, chúng ta nên nhận thức tổng quan qua cặp đôi thuật ngữ đã được triển khai trong chương trình Di sản Nhật Bản, là: điểm và diện, bảo tồn và phát huy. Rõ ràng công tác liên quan đến “điểm” của DSVH biển Nhật Bản đã được thực hiện với một bề dày kinh nghiệm phong phú (được tích lũy hơn 100 năm, từ thời Minh Trị đến nay). DSVH biển nằm ở trong tất cả các loại hình TSVH (DSVH) đã điểm ở trên, và đang được bảo lưu “điểm” tại các địa phương, trong các bảo tàng liên quan đến biển, các phòng tư liệu liên quan đến biển (có thể là cơ sở quốc lập, có thể là cơ sở thuộc các địa phương),… nằm rải khắp trên nước Nhật. Nhưng thực sự thú vị là, chính từ khi chương trình Di sản Nhật Bản được phát động với ý tưởng chính là kết nối “điểm” thành “diện”, thì chúng ta mới thấy rõ hơn trước hết là vị trí của DSVH trong bức tranh văn hóa Nhật Bản nói chung, và sau đó là vị trí của DSVH biển trong bức tranh DSVH Nhật Bản. Hoặc nói cách khác là, khi tiếp cận DSVH theo hai cặp thuật ngữ điểm - diện và bảo tồn - phát huy, chúng ta mới nhận thức được một cách đầy đủ về vấn đề DSVH (nói chung) và DSVH biển (nói riêng).

Để giúp bạn đọc dễ hình dung được vấn đề, chúng tôi vẫn thấy cần đưa ra những ví dụ cụ thể. Ở đây, do khuôn khổ bị giới hạn, sẽ nêu 1 ví dụ DSVH biển ở dạng “điểm”, và 1 ví dụ DSVH biển ở dạng “diện”. Có nghĩa là chúng tôi sẽ giới thiệu (ở mức sơ lược) về một di sản văn hóa biển dạng “đơn vị” cụ thể, và một di sản văn hóa biển dạng “câu chuyện”.

Về một đơn vị cụ thể, có thể giới thiệu về con tàu nổi tiếng Meiji-maru明治丸. Đây là con thuyền đầu tiên ở Nhật Bản được chỉ định là TSVH trọng yếu (重要文化財明治丸), vào năm 1978. Đồng thời, cũng là con tàu gắn với Ngày Kỉ niệm Biển (Umi-no-kinenbi 海の記念日) được qui định trước năm 1945, hay Ngày Biển (Umi-no-hi海の日=marine day) được qui định vào năm 1995.

Sở dĩ gọi là “Meiji-maru” gắn với tên nhà vua Minh Trị (Meiji) là vì nó là con tàu sắt có trọng tải lớn được chính phủ Minh Trị đặt sản xuất ở Anh vào năm 1873. Tới tháng 2-1875, tàu Meiji-maru cập bến Yokohama, nhận nhiệm vụ là tàu tuần tra hải đăng灯台巡視船 (lighthouse tender = canh phòng, tiến hành sửa chữa và tiếp tế cho hải đăng). Song song với nhiệm vụ chính đó, con tàu đã tham gia tích cực vào nhiều hoạt động hàng hải suốt một thời gian dài. Trong đó, đáng ghi nhớ là từng trở thành tàu chuyên chở đoàn tuần thú tới vùng Bắc Hải Đạo và vùng biển phía bắc Nhật Bản của vua Minh Trị vào năm 1876 (Minh Trị 9). Chuyến tuần thú đó đã thành công tốt đẹp, Meiji-maru trở về rồi cập bến Yokohama an toàn vào ngày 20-7 cùng năm. Xuất phát từ sự kiện này, vào năm 1941, chính phủ Nhật Bản đã chọn ngày 20-7 hàng năm là Ngày Kỉ niệm Biển (sau này chuyển thành Ngày Biển).

Sau một thời gian hoạt động tích cực, đến năm 1896 (Minh Trị 29), Meiji-maru được chuyển nhượng quyền sở hữu cho Trường thương thuyền học商船学校 (tiền thân của Đại học Hải dương Tokyo東京海洋大学ngày nay) để trở thành thuyền huấn luyện. Trong khoảng 50 năm (tính từ năm 1896 đến năm 1945), con tàu đã tham gia vào việc đào tạo khoảng 5.000 thủy thủ. Đến đầu thập niên 1950, Meiji-maru lão hóa nhanh chóng, nên được đưa lên bờ và giải nhiệm vào năm 1954. Tuy nhiên, một bộ phận của con tàu khi đã được đưa lên bờ vẫn được sử dụng vào việc huấn luyện/đào tạo của nhà trường cho đến năm 1975.

Ngày 1-5-1978 (Chiêu Hòa 53), sau một thời gian thẩm định chuyên môn, Meiji-maru được chỉ định là TSVH trọng yếu của quốc gia. Căn cứ chính để chỉ định là: Meiji-maru là con tàu sắt duy nhất của Nhật Bản còn bảo lưu được đến ngày nay, trở thành di sản trọng yếu mang ý nghĩa truyền đạt cho thế hệ sau về kĩ thuật đóng tàu của thời đại tàu sắt. Sau khi được chỉ định là TSVH trọng yếu, Meiji-maru được đưa vào tu sửa để bảo tồn, và từ năm 1988 thì được trưng bày công khai. Những năm gần đây, do con tàu lại tiếp tục bị lão hóa, nên từ tháng 12-2013 (Bình Thành 25) Đại học Hải dương Tokyo đã phối hợp với Bộ Khoa học Giáo dục Nhật Bản thực hiện công việc trùng tu qui mô lớn. Đến tháng 3-2015 (Bình Thành 27), công việc trùng tu đã hoàn thành, Meiji-maru lại được đưa vào triển lãm công khai.

Cùng với việc bảo lưu bản thân con tàu Meiji-maru, đơn vị chủ quản TSVH là Đại học Hải Dương Tokyo đã xây dựng Bảo tàng Biển mang tên Meiji-maru (明治丸海事ミュージアム). Bảo tàng này lưu trữ một khối lượng rất lớn các tư liệu và di vật liên quan đến con tàu (như hợp đồng đặt hàng của chính phủ Nhật Bản cho hãng đóng tàu của nước Anh vào đầu thời Minh Trị, các giấy tờ qua từng thời kì lịch sử, nội thất và các đồ dùng đã sử dụng trên con tàu,…).

Với trường hợp con tàu Meiji-maru đã giới thiệu ở trên, chúng ta có thể thấy như một trường hợp điển hình của di sản văn hóa biển dạng “điểm”. Rõ ràng, với bản thân “điểm” này, cũng đã thấy trong nó có tính “truyện” (có sự đan kết nhiều chiều của các liên hệ xung quanh con tàu). Tuy nhiên, nếu chiếu theo các tiêu chuẩn của chương trình Di sản Nhật Bản (đã trình bày ở trên) thì nó vẫn chưa thỏa mãn. Tiếp theo đây, chúng ta đến với một ví dụ về di sản văn hóa dạng “điểm” của chương trình này.

Như đã đề cập ở trên, đến hiện tại, đã có 37 câu chuyện được công nhận trong chương trình Di sản Nhật Bản. Đó là kết quả tuyển chọn của hai năm 2015 và 2016 (năm đầu có 18 câu chuyện đánh số từ 1 đến 18, năm sau có 19 câu chuyện đánh số từ 19 đến 37). Trong 37 câu chuyện này, thì có 8 câu chuyện  gắn với di sản văn hóa biển. Cụ thể như sau (theo thứ tự được công nhận).

(1). Truyện số 4 “Bán đảo múa lửa Noto: Lễ Kiriko cuồng nhiệt” (ở địa bàn tỉnh Ishikawa).

(2). Truyện số 5 “Nhóm di sản văn hóa vãng lai kết nối biển cả với đô thị: vùng hải sản tiến vua Wakasa và con đường thiên lí của loài cá saba” (tỉnh Fukui).

(3). Truyện số 8 “Hồ Tì Bà và cảnh quan sông nước ở xung quanh: di sản nước trong lễ hội và cuộc sống” (tỉnh Shiga).

(4). Truyện số 16 “Kinh đô phía tây của Nhật Bản thời cổ đại: cứ điểm giao lưu với Đông Á” (tỉnh Fukuoka).

(5). Truyện số 17 “Những hòn đảo ở vùng biên giới: cầu nối giao lưu từ thời cổ đại” (tỉnh Nagasaki).

(6). Truyện số 30 “Đảo Awaji nơi sinh thành đất nước được ghi ở đầu sách Cổ sự kí: hoạt động của những ngư dân đã lo toan công việc của quốc gia cổ đại” (tỉnh Hyogo).

(7). Truyện số 32 “Sống cùng cá voi” (tỉnh Wakayama).

(8). Truyện số 36 “Căn cứ địa Gheyo của đoàn quân cướp biển lớn nhất Nhật Bản: Kí ức về tướng cướp Murakami” (tỉnh Hiroshima và tỉnh Eihime)

Như vậy là có khoảng 1/5 trong chương trình Di sản Nhật Bản là những câu chuyện liên quan đến biển và di sản văn hóa biển. Đó đều là những câu chuyện hết sức thú vị, mà mỗi câu chuyện mang tính “diện” như vậy đều bao chứa trong nó rất nhiều di sản văn hóa biển mang tính “điểm”. Ở đây, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược về truyện số 36. Đó là truyện về đoàn quân cướp biển lớn nhất Nhật Bản mang tên “cướp biển Murakami”.

Truyện “cướp biển Murakami” là một câu chuyện lớn, trải dài trên quần đảo Gheyo vắt ngang qua hai tỉnh Hiroshima và Eihime, kết nối 42 di sản văn hóa (phần lớn đã được chỉ định) để kể về hoạt động của đoàn quân cướp biển lớn nhất Nhật Bản ở các thế kỉ XIV-XVI.

Điều đặc biệt thú vị trong truyện này là, tuy được gọi là “tướng cướp” (theo ghi chép sớm nhất vào cuối thế kỉ XVI), nhưng lại là “tướng cướp chính nghĩa” mà không phải tướng cướp phi nghĩa như trong tưởng tượng bấy lâu nay của chúng ta. Đoàn tướng cướp Murakami được hình thành từ ba gia đình (địa danh quê hương của họ hiện ở 3 vùng trong hai tỉnh Hiroshima và Ehime). Ba gia đình này cùng lấy họ chung là Murakami để thống nhất huyết thống. Họ tổ chức được những đoàn thuyền lớn mạnh và vô cùng kỉ luật, để chuyên lo việc an ninh trật tự trên đường giao thương biển nội địa Seto nổi tiếng (đánh đuổi bọn cướp phi nghĩa, cứu trợ thuyền gặp nạn, kiểm soát hàng hóa,…). Họ xây dựng nhiều tòa thành biển trong quần đảo. Các vị tướng Murakami sinh sống trong các tòa thành đều là những người có văn hóa cao, trượng nghĩa, và có tài kinh thương. Những di sản văn hóa mà họ để lại trên một vùng rộng lớn (thành biển, đền chùa, quân phục, quân trang quân dụng, văn thư, món ăn,…) khi được kết nối thành một chỉnh thể, mà mỗi di sản đều có vị trí riêng trong chỉnh thể, sẽ làm sống lại kí ức về “tướng cướp Murakami” một cách vừa cụ thể mà lại vừa khái quát. Thông điệp mang tính văn hóa được gửi đến người hôm nay và các thế hệ mai sau chính là qua một chuỗi di sản văn hóa kết thành “truyện” như vậy.

Thay lời kết

Trên đây, chúng tôi đã trình bày một cách vắn tắt một số điểm chuyển đổi/chỉnh sửa cập nhật theo lịch trình thời gian trong Luật Bảo hộ TSVH của Nhật Bản. Những chuyển đối đó chính là phản ánh những chuyển đổi trong quan điểm của nhà nước đối với TSVH (DSVH). Đó cũng chính là những kết quả kế tiếp thu được trong thực tiễn tương tác qua lại nhiều chiều (nhà nước trung ương với địa phương, nhà nước với dân gian, nhà nước với giới học thuật, nhà nước với các tổ chức quốc tế,…) (2).

Điểm quan trọng hơn cả, cũng là đáng tham khảo hơn cả, theo chúng tôi, chính là sự chuyển đổi trong tư duy về TSVH (DSVH) trong những năm gần đây: từ coi trọng điểm sang coi trọng diện, từ lấy bảo tồn sang phát huy làm bản vị. Và kết quả của sự chuyển đổi là, chúng ta có thể tư duy về DSVH một cách đầy đủ hơn qua việc kết hợp hài hòa giữa điểm và diện, giữa bảo tồn và phát huy. Để đạt được nhận thức đó, các cơ quan quản lí nhà nước và giới học thuật Nhật Bản đã phải trải qua một quá trình tích lũy kinh nghiệm thực tế lâu dài, có khi là phải tranh luận quyết liệt (3) để đi đến những đồng thuận, mà không phải chỉ là kết quả tư biện mang tính tức thời của một cá nhân nào./.

C.X.G

(Tạp chí Văn hóa học, số 5 (33) - 2017)

1. Vụ Tài sản Văn hóa (Cục Văn hóa) 文化庁文化財部

2015 『Cultural Properties for Future Generations』Pamphlet on Cultural Properties, tr. 4.

2016a『未来に伝えよう文化財』文化庁文化財部・文化財に関するパンフレット., tr. 4.

2. Về vấn đề tổng quan này, là do chúng tôi rút ra, qua việc tham khảo một lượng tư liệu đáng kể. Gồm các tư liệu sau: Hội đồng Bảo hộ Tài sản Văn hóa 1960; Cục Văn hóa 1970, 2015a, 2015b, 2016a, 2016b; Nakamura 1992; Kono 1995; Vụ Giám sát Hành chính 1996; Baba 1998, 2003, 2012; Ohashi 1998, 2004; Kawamura 2002; Suzuki - Takagi 2002; Lâm Bảo Nghiêu 2002; Hội Nghiên cứu Bảo tồn Duy tu Tài sản Văn hóa 2003; Neki 2005; Hồ Tú Mai 2005; Hội Nghiên cứu Bảo hộ Tài sản Văn hóa 2006; Kỉ Thục Chân 2007; Chu Siêu 2012; Phòng Văn hóa Truyền thống 2015; Vụ Tài sản Văn hóa 2016a, 2016b.

3. Có thể thấy những tổng quan bằng tiếng Nhật trong Kikuchi 2001 và Suzuki - Takagi 2002. Trong tiếng Việt, có thể tham khảo Chu Xuân Giao 2007, 2008.


Tài liệu tham khảo

Baba Kenichi馬場憲一

1998 『地域文化政策の新視点―文化遺産保護から伝統文化の継承へ』初版、東京:雄山閣.

2001「日本における文化遺産の活用と地域づくり--1990年代の文化財政策との関わりの中で (Utilization of Japanese Cultural Heritage and Community Planning : Relevant to the National Policy for Cultural Properties in the 1990s)」法政大学現代福祉学部現代福祉研究編集委員会『現代福祉研究』1(創刊号): 35-47.

2003 「文化財保護における歴史学的視点の現状 」法政大学史学会 『法政史学』60 : 30-46.

2012 「基調報告. 歴史的公共空間の生成と文化財指定」『文化遺産の保存活用とNPO : 法政大学第27回多摩シンポジウム報告集』東京 : 岩田書院.

2015 「記憶の場 伝説 歴史的環境 勝淵神社― 柴田勝家兜埋納伝説を事例に-」『現代福祉研究』15 : 153-170.

Chu Siêu周超 2012 「日中無形文化財保護法の比較研究 (The Comparative Study of the Act on Safeguarding Intangible Cultural Heritage between Japan and China)」愛知大学・国際コミュニケーション学部紀要『文明21』29:43-53.

Chu Xuân Giao

2007 “Mấy vấn đề về làng chài và nghiên cứu làng chài ở Nhật Bản từ góc nhìn văn hóa dân gian”, Tạp chí Văn hóa Dân gian số 4 (114).

2008  “Du lịch và du lịch biển ở Nhật Bản từ góc nhìn văn hóa dân gian: lí luận và thực tiễn”, In trong sách Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam Bộ (Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hóa, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ngãi, Hội Văn học Nghệ thuật Kiên Giang, Hà Nội: Nxb Từ điển Bách khoa.

Cục Văn hóa 文化庁 (Agency for Cultural Affairs, Government of Japan)

1970 『文化財保護の現状と課題』大蔵省印刷局.

1999 『新しい文化立国の創造をめざして—文化庁30年史』再版、東京:株式会社ぎょうせい.

2001 『文化庁保護法五十年史』初版、東京:株式会社ぎょうせい.

2011 「Preservation and Utilization of Cultural Properties」平成23年

2012 「Preservation and Utilization of Cultural Properties」平成24年

2015a 『「日本遺産」調査研究事業報告書』平成26年度 文化庁委託事業・

ランドブレイン株式会社

2015b 「日本遺産(Japan Heritage)」事業について」

2016a  『我が国の文化政策』文化庁統計・白書・出版物

2016b 『Japan Heritage』文化庁統計・白書・出版物

Diệp Thu Hoa - Khổng Đức Siêu叶秋华-孔德超2008 「文化遗产法律保护中的几个问题」『法学家』5 : 34-40.

Hồ Tú Mai 胡秀梅 2005『日本《文化财保护法》与我国相关法律法规比较研究』浙江大学硕士论文

Hội đồng Bảo hộ Tài sản Văn hóa 文化財保護委員会 1960 『文化財保護の歩み』大蔵省印刷局

Hội Nghiên cứu Bảo hộ Tài sản Văn hóa文化財保護法研究会 2006『最新改正 文化財保護法』ぎょうせい

Hội Nghiên cứu Bảo tồn Duy tu Tài sản Văn hóa 文化財保存修復学会2003 『文化財の保存と修復5―世界に活かす日本の技術』初版、東京:株式会社クバプロ。 

Kawamura Tsuneaki川村恒明 2002 『文化財政策概論―文化遺産保護の新たな展開に向けて』第1版、東京:東海大学出版会。 

Kikuchi Akira菊地暁 2001『柳田国男と民俗学の近代―奥能登のアエノコトの二十世紀  ―』 吉川弘文館

Kỉ Thục Chân 紀淑珍 2007 『日本無形文化財保存の研究Study on Preservation of Intangible Cultural Heritage of Japan』台湾淡江大學・日本研究所・碩士論文

Kono Yasushi河野靖 1995『文 化 遺 産 の 保 存 と 国 際 協 力 』 東京:風 響 社

Lâm Bảo Nghiêu林保堯 2002 「日本「文化財保護法」 制度沿革略析之一」 國立臺北藝術大學『藝術評論』13 : 1-13.

Liêu Lệ Khanh 廖儷鍞1993 『日本文化財保護行政研究 A study of Japanese political system of the preservation and restoration of cultural assets』台湾文化大学・日本研究所・碩士論文.

Nakamura Kenjiro中村賢二郎1992 『文化財保護制度概説』4版、東京:株式会社ぎょうせい.

Neki Akira 根木昭 2005 『日本の文化政策--「文化政策学」の構築に向けて』第1版、東京:勁草書房.

Ohashi Toshihiro大橋敏博

 1998 「文化財を生かしたまちづくりにおける関係法制の交錯とその運用」

文化経済学会『文化経済学』 1巻1号:19-23.

2004 「韓国における文化財保護システムの成立と展開 ―― 関野貞調査 (1902 年)から韓国文化財保護法制定(1962 年)まで」島根県立大 学総合政策学会『総合政策論叢』8 : 173 -191.

Phòng Văn hóa Truyền thống (Vụ Tài sản Văn hóa - Cục Văn hóa) 文化庁文化財部伝統文化課 2015 『文化財の効果的な発信・活用ガイドブック』調査委託 ランドブレイン株式会社.

Phòng Vật kỉ niệm (Vụ Tài sản Văn hóa - Cục Văn hóa) 文化庁文化財部記念物課 2016 『日本遺産(Japan Heritage)』

Suzuki Ryo - Takagi Hiroshi鈴木良、高木博志 2002 『文化財と近代日本』第1版、東京:株式会社山川出版.

Vụ Tài sản Văn hóa (Cục Văn hóa) 文化庁文化財部

2006 『文化財保護関係法令集(第2次改訂版)』初版、東京:株式会社ぎょうせい.

2016b『文化財の保護とまちづくり歴史文化基本構想」の実現~歴史まちづくり法と

の連携~』文化庁文化財部・文化財に関するパンフレット.

Vụ Giám sát Hành chính (Cục Hành chính Tổng hợp) 総務庁行政監察局 1996 『文化行政の現状と課題』初版、東京:大蔵省印刷局.




Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2017
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận