ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC
CỦA NAM SINH VIÊN NĂM NHẤT
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH*
ThS. TRƯƠNG XUÂN HÙNG
1. Đặt vấn đề*
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện, thể lực của sinh viên (SV) - đặc biệt là nam SV năm nhất - ngày càng được quan tâm như một yếu tố nền tảng góp phần nâng cao chất lượng học tập, lao động và khả năng thích ứng xã hội. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy thể lực của SV hiện nay có xu hướng giảm sút, chưa đạt chuẩn trung bình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực tế tại trường Cao đẳng Công Thương TP.HCM cũng ghi nhận tình trạng tương tự, khi nhiều nam SV năm nhất chưa đáp ứng được các yêu cầu về thể chất, đặc biệt ở các chỉ tiêu lực bóp tay, bật xa tại chỗ và khả năng chịu đựng vận động.
Thực trạng suy giảm thể lực SV không phải là vấn đề riêng của trường Cao đẳng Công Thương TP.HCM. Nghiên cứu của Vũ Tiến Thành (2023) về thể lực chung của SV năm thứ nhất trường Đại học Dược Hà Nội cho thấy phần lớn SV chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thể lực theo quy định, đặc biệt ở các tố chất sức mạnh và sức bền. Kết quả nghiên cứu của Phạm Quốc Đạt và cộng sự (2021) tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cũng như của Nguyễn Nam Hà và cộng sự (2018) trên SV các trường thuộc Đại học Thái Nguyên, đều ghi nhận nhịp tăng trưởng thể lực của SV còn chậm, phần lớn do thời lượng tập luyện ngoại khóa hạn chế và chương trình giáo dục thể chất (GDTC) chưa được đầu tư đúng mức. Những kết quả này cho thấy đây là thực trạng chung trong SV các trường cao đẳng, đại học hiện nay, qua đó khẳng định tính cấp thiết và giá trị thực tiễn của việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thể lực SV tại các cơ sở giáo dục cụ thể, trong đó có trường Cao đẳng Công Thương TP.HCM.
Trước thực trạng đó, việc đánh giá thực trạng thể lực và sự phát triển thể lực sau một năm học là cần thiết, nhằm cung cấp dữ liệu thực chứng làm cơ sở xây dựng các giải pháp cải tiến chương trình GDTC. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đánh giá toàn diện thể lực của nam SV năm nhất trường Cao đẳng Công Thương TP.HCM theo quy định tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT, từ đó đề xuất thang điểm đánh giá phù hợp và định hướng nâng cao hiệu quả GDTC tại nhà trường.
2. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
2.1. Kết quả thực nghiệm đánh giá thể lực ban đầu của nam SV năm nhất
Để có cái nhìn khách quan về thể trạng ban đầu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát 150 nam SV năm nhất trường Cao đẳng Công Thương TP.HCM. Các chỉ tiêu khảo sát bao gồm: chiều cao, cân nặng, BMI, lực bóp tay, bật xa tại chỗ, nằm ngửa gập bụng, chạy 30m xuất phát cao (XPC), chạy con thoi 4x10m và chạy tùy sức 5 phút. Kết quả khảo sát cụ thể được trình bày tại bảng 1.
Bảng 1. Thống kê đặc trưng thể lực ban đầu của nam SV (n = 150)
|
STT |
Chỉ tiêu |
Trung bình (x̄) |
Độ lệch chuẩn (SD) |
Cv (%) |
|
1 |
Chiều cao (cm) |
166.5 |
4.68 |
2.81 |
|
2 |
Cân nặng (kg) |
54.13 |
6.33 |
11.69 |
|
3 |
BMI |
20.13 |
3.61 |
17.94 |
|
4 |
Lực bóp tay thuận (kg) |
39.83 |
6.89 |
17.3 |
|
5 |
Bật xa tại chỗ (cm) |
228 |
19.32 |
8.47 |
|
6 |
Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) |
19.57 |
3.09 |
15.79 |
|
7 |
Chạy 30m XPC (giây) |
4.59 |
0.48 |
10.46 |
|
8 |
Chạy con thoi 4x10m (giây) |
12.31 |
0.75 |
6.09 |
|
9 |
Chạy tùy sức 5 phút (m) |
725.24 |
57.29 |
7.9 |
Nguồn: Số liệu khảo sát và xử lý của nhóm nghiên cứu.
2.2. Kết quả sau một năm học tập và rèn luyện
Sau một năm học, nhóm SV tiếp tục được kiểm tra các chỉ tiêu thể lực giống như đợt khảo sát đầu nhằm xác định mức độ thay đổi theo thời gian. Kết quả so sánh được trình bày tại bảng 2.
Bảng 2. So sánh thành tích thể lực trước và sau một năm học
|
STT |
Chỉ tiêu |
Ban đầu (x̄) |
Sau 1 năm (x̄) |
Mức tăng/giảm (%) |
t |
p |
Kết luận |
|
1 |
Chiều cao (cm) |
166.5 |
167.86 |
+ 0.81 |
3.45 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
2 |
Cân nặng (kg) |
54.13 |
56.49 |
+ 4.27 |
4.12 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
3 |
BMI |
20.13 |
20.59 |
+ 2.26 |
1.18 |
> 0.05 |
Không ý nghĩa |
|
4 |
Lực bóp tay thuận (kg) |
39.83 |
40.9 |
+ 2.69 |
2.89 |
< 0.05 |
Có ý nghĩa |
|
5 |
Bật xa tại chỗ (cm) |
228 |
233 |
+ 2.19 |
3.01 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
6 |
Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) |
19.57 |
20.75 |
+ 6.03 |
3.56 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
7 |
Chạy 30m XPC (giây)* |
4.59 |
4.41 |
- 3.92 |
- 4.32 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
8 |
Chạy con thoi 4x10m (giây)* |
12.31 |
10.11 |
- 17.85 |
- 8.74 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
9 |
Chạy tùy sức 5 phút (m) |
725.24 |
987.22 |
+ 36.2 |
15.62 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
Nguồn: Số liệu khảo sát và xử lý của nhóm nghiên cứu. (*) Đối với các chỉ tiêu tính bằng thời gian (Chạy 30m XPC, Chạy con thoi 4x10m), giá trị âm thể hiện thời gian rút ngắn, nghĩa là thành tích cải thiện.
Biểu đồ
1. So sánh mức tăng/giảm thành tích thể lực của nam SV trước và sau

2.3. Phân loại theo tiêu chuẩn thể lực học sinh - sinh viên
Để xác định mức độ đáp ứng yêu cầu thể lực theo quy định hiện hành, nhóm nghiên cứu phân loại kết quả kiểm tra của SV theo ba mức Tốt - Đạt - Không đạt quy định tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT, ở cả hai thời điểm khảo sát ban đầu và sau một năm học. Kết quả phân loại được trình bày tại bảng 3.
Bảng 3. Tỷ lệ phân loại thể lực theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT
(nam SV, n = 150)
|
Chỉ tiêu |
Ban đầu |
Sau 1 năm |
||||
|
|
Tốt (%) |
Đạt (%) |
Không đạt (%) |
Tốt (%) |
Đạt (%) |
Không đạt (%) |
|
Lực bóp tay thuận |
11.3 |
68.7 |
20 |
18.7 |
78.7 |
2.6 |
|
Nằm ngửa gập bụng |
13.3 |
67.3 |
19.3 |
18.0 |
77.3 |
4.7 |
|
Bật xa tại chỗ |
10.7 |
76 |
13.3 |
15.3 |
80 |
4.7 |
|
Chạy 30m XPC |
12 |
65.3 |
22.7 |
22.7 |
75.3 |
2 |
|
Chạy con thoi 4x10m |
8.7 |
63.3 |
28 |
16.7 |
76.7 |
6.6 |
|
Chạy tùy sức 5 phút |
6 |
50.7 |
43.3 |
12 |
80 |
8 |
Nguồn: Số liệu khảo sát và xử lý của nhóm nghiên cứu theo tiêu chuẩn phân loại
quy định tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT.
2.4. So sánh với các chuẩn tham chiếu quốc gia
Để có cơ sở đánh giá khách quan hơn về thể lực của sinh viên, nhóm nghiên cứu so sánh thành tích thể lực của sinh viên sau một năm rèn luyện với chuẩn học sinh, sinh viên Việt Nam 18 tuổi theo công bố của Viện Khoa học Thể dục Thể thao (2001). Kết quả so sánh được trình bày tại bảng 4.
Bảng 4. So sánh với chuẩn HSSV Việt Nam 18 tuổi
|
STT |
Chỉ tiêu |
SV CĐCT (x̄) |
HSSV VN 18 tuổi (x̄) |
Khác biệt |
t |
p |
Kết luận |
|
1 |
Lực bóp tay thuận (kg) |
40.9 |
43.9 |
- 3.0 |
- 5.12 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
2 |
Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) |
20.75 |
20 |
+ 0.75 |
2.68 |
< 0.05 |
Có ý nghĩa |
|
3 |
Bật xa tại chỗ (cm) |
233 |
219 |
+ 14 |
8.45 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
4 |
Chạy 30m XPC (giây)* |
4.41 |
4.88 |
- 0.47 |
- 9.15 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
5 |
Chạy con thoi 4x10m (giây)* |
10.11 |
10.61 |
- 0.5 |
- 6.23 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
|
6 |
Chạy tùy sức 5 phút (m) |
987.22 |
940 |
+ 47.22 |
7.89 |
< 0.01 |
Có ý nghĩa |
Nguồn: Số liệu xử lý của nhóm nghiên cứu và Hằng số sinh học người Việt Nam (Viện Khoa học Thể dục Thể thao, 2001). (*) Giá trị âm ở các chỉ tiêu tính bằng thời gian thể hiện thành tích tốt hơn chuẩn so sánh.
2.5. Bàn luận
Về mức độ cải thiện thể lực: Sau một năm học, cả 9 chỉ tiêu khảo sát đều có mức tăng trưởng, phần lớn có ý nghĩa thống kê, trong đó nổi bật nhất là sức bền (chạy 5 phút tăng 36,2%), sức mạnh cơ bụng (gập bụng tăng 6,03%) và sức nhanh (chạy 30m XPC giảm 3,92% thời gian).
So sánh với chuẩn quốc gia và các trường khác: So với chuẩn học sinh, sinh viên Việt Nam năm 2001, sinh viên trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh vượt trội về tốc độ, sức bền và sức bật. Kết quả này tương đồng với xu hướng được ghi nhận tại một số trường khác như trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật, cũng như trong nghiên cứu của Vũ Tiến Thành (2023) tại trường Đại học Dược Hà Nội và của Phạm Quốc Đạt và cộng sự (2021) tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho thấy thể lực sinh viên năm nhất nói chung có sự cải thiện sau một năm học tập và rèn luyện, dù mức độ khác nhau giữa các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, chỉ tiêu lực bóp tay tại trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh vẫn thấp hơn chuẩn quốc gia, tương tự nhận định của Nguyễn Nam Hà và cộng sự (2018) về hạn chế trong nhóm chỉ tiêu sức mạnh của sinh viên các trường thuộc Đại học Thái Nguyên, cho thấy đây là vấn đề cần được tăng cường trong chương trình giáo dục thể chất.
3. Kết luận
Kết quả nghiên cứu trên 150 nam sinh viên năm nhất trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy thể lực ban đầu của sinh viên còn thấp hơn chuẩn trung bình quốc gia, nhưng đã có sự cải thiện rõ rệt sau một năm học tập và rèn luyện, đặc biệt ở các chỉ tiêu sức bền (chạy 5 phút tăng 36,2%), sức nhanh (chạy 30m XPC giảm 3,92% thời gian) và sức mạnh cơ bụng (tăng 6,03%); tỷ lệ sinh viên đạt và vượt chuẩn theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT cũng tăng mạnh ở hầu hết các nội dung. So với chuẩn học sinh sinh viên Việt Nam 18 tuổi, sinh viên nhà trường vượt trội về sức bền, sức bật và sức nhanh, song lực bóp tay vẫn còn hạn chế, cho thấy cần bổ sung các bài tập tăng cường sức mạnh tay trong chương trình giao dục thể chất./.
T.X.H
(Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Khoa học thể thao, số 1 (1) - 2026)
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT về việc ban hành quy định đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên.
2. Lê Văn Lẫm (2000), Nghiên cứu thể chất SV toàn quốc (Đề tài khoa học cấp Bộ), Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Nguyễn Nam Hà và cộng sự (2018), “Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên các trường thuộc Đại học Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, 179 (3), tr. 127-131.
4. Nguyễn Văn Hồng (2005), Nghiên cứu thực trạng thể lực của SV trường Đại học Sư phạm TP.HCM trong độ tuổi 18-21 (Luận văn Thạc sĩ), Trường Đại học Thể dục Thể thao TP.HCM.
5. Phạm Quốc Đạt, Trần Văn Hậu, Nguyễn Tiến Tuân và Trương Đức Thăng (2021), “Thực trạng công tác phát triển thể lực trong giáo dục thể chất cho sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đào tạo và Huấn luyện Thể thao, 1 (3).
6. Trịnh Trung Hiếu (Chủ biên) (2005), Giáo trình sinh lý thể thao, Nxb. Thể dục Thể thao, Hà Nội.
7. Viện Khoa học Thể dục Thể thao (2001), Điều tra hằng số sinh học người Việt Nam, Nxb. Thể dục Thể thao, Hà Nội.
8. Vũ Tiến Thành (2023), “Thực trạng công tác phát triển thể lực chung cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Dược Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Đào tạo và Huấn luyện Thể thao, 1 (3).
* Bài báo được trích từ Luận văn Thạc sĩ Đánh giá sự phát triển thể lực của nam sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh của ThS. Trương Xuân Hùng.
| Sách giấy: | Liên hệ | ||
| Ebook: | Liên hệ |
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục