Phục dựng các lễ hội truyền thống ở Việt Nam, bảo tồn hay "sáng tạo từ truyền thống"

Ngày đăng: 12/10/2026 Lượt xem: 177
Mặc định Cỡ chữ

 

PHỤC DỰNG CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM,
     BẢO TỒN HAY
“SÁNG TẠO TỪ TRUYỀN THỐNG”

              

                 PGS.TS. Nguyễn Chí Bền

            


Lời mở

Đã mấy năm trôi qua, mà tôi không thể quên được cảm xúc vui mừng của một ngày đầu xuân năm 2010. Sáng sớm, tôi dời Hà Nội để về huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, dự lễ hội Tịch điền do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam phục dựng theo yêu cầu của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam. Tôi không thể nào quên nét mặt hồ hởi, phấn khởi của những người dân trong vùng. Khi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bắt đầu cầm cày, cày những đường cày đầu tiên trên mảnh ruộng lất phất hơi sương thì xung quanh tôi những tiếng trầm trồ, vui mừng: “Hoan hô Chủ tịch nước đi cày! Hoan hô “nhà vua” đi cày!”; “Có thế chứ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước hôm nay biết kế tục truyền thống của cha ông, ngày xưa, nhà vua Lê Đại Hành từng về đây đi cày mà!”; “Năm nay ắt được mùa đây, Đảng, Nhà nước chăm lo phát triển nông nghiệp đến thế kia mà!”. Chỉ đạo phục dựng lễ hội Tịch điền ở Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, tôi cứ đinh ninh, mình đã làm đúng và làm được một việc có ích cho những người dân lam lũ ở một vùng quê nghèo. Trở về Hà Nội thì tôi được đọc những bình luận của một số nhà khoa học đầu ngành trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Người thì băn khoăn việc lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự lễ Tịch điền**; Người thì ủng hộ việc tổ chức lễ hội Tịch điền, ủng hộ việc Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đi cày đầu xuân, nhưng không ủng hộ việc “vẽ trâu” của Ban tổ chức lễ hội Tịch điền***. Tôi hoang mang, có lúc không tin ở ý tưởng cho phục dựng một số lễ hội truyền thống của mình và cảm giác vui buồn lẫn lộn, nghi nghi hoặc hoặc cứ đeo đẳng tôi, mỗi khi quyết định giao cho các cộng sự của mình phục dựng một lễ hội truyền thống nào đó trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa! Chả lẽ…?!

Phục dựng lễ hội truyền thống, chuyện không hề đơn giản

Thực ra, phục dựng lễ hội Tịch điền ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam không phải là trường hợp đầu tiên với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Trước đó, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã phục dựng hai lễ hội khác là lễ hội Lam Kinh và lễ hội đền Kiếp Bạc. Mỗi trường hợp phục dựng này là một cách tiến hành, cái được và chưa được của mỗi trường hợp cũng khác nhau.

1.1. Trường hợp lễ hội Lam Kinh (tỉnh Thanh Hóa)

Thực ra, lễ hội Lam Kinh là một trường hợp thử nghiệm đầu tiên cho một quan điểm phục dựng lễ hội truyền thống. Trước năm 2005, lễ hội này được tổ chức bằng cách: giao cho các diễn viên của các đoàn nghệ thuật trong tỉnh thực hiện. Ngành văn hóa đưa các diễn viên về làm các nhiệm vụ: đọc văn tế, trình diễn các nghi lễ v.v… Người ta xác định đây là một lễ hội khá đặc biệt: lễ hội tưởng niệm Lê Lợi - Lê Thái Tổ. Bởi, Lam Sơn là đất phát tích của nhà Lê. Sau khi đánh thắng giặc Minh, lên ngôi vua, Lê Lợi trở về Lam Sơn, năm 1429, "tháng 11, vua ngự về Tây đô, bái yết sơn lăng, thưởng cho các tướng hiệu quân nhân theo hầu mỗi người thăng tước một bậc" (1). Tháng 8 nhuận năm 1433, vua Lê Lợi về Lam Kinh, rồi qua đời ở đây. Thái tử Nguyên Long lên ngôi vua, tức vua Lê Thái Tông - N.C.B ghi chú, cho xây dựng điện Lam Sơn đến năm 1449 thì xong. Từ ấy về sau, việc về bái yết sơn lăng ở Lam Kinh được diễn ra. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thời vua Lê Nhân Tông có hai lần nhà vua về Lam Kinh vào các năm 1448, 1456 (2). Thời vua Lê Thánh Tông, cũng theo sách này, có mười một lần nhà vua về Lam Kinh vào các năm 1461, 1464, 1467, 1468, 1470, 1473, 1476, 1482, 1488, 1491, 1496 (3). Cũng lại theo sách này, vua Lê Hiến Tông về Lam Kinh vào năm 1506 và vua Lê Tương Dực về Lam Kinh vào các năm 1511, 1514 (4). Như vậy, từ thời vua Lê Thái Tổ đến thời vua Lê Tương Dực, việc về Lam Kinh bái yết sơn lăng gần như là hoạt động thường xuyên. Điều cần phải thấy, khi các vua Lê và quần thần về Lam Kinh, người dân Lam Kinh phải đi đón rước, chào mừng. Chủ thể của lễ bái yết sơn lăng là các vua Lê, và đám quần thần, nhưng khách thể phải là người dân vùng Lam Kinh. Thời Lê Nhân Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép: "... vua ngự về Lam Kinh, thái hậu và các vương đều đi theo... Dân Thanh Hoá thấy vua đến, trai gái đem nhau hát rí ren ở hành tại. Tục hát rí ren một bên con trai, một bên con gái, dắt tay nhau hát, hoặc tréo chân tréo cổ nhau, gọi là cắm hoa kết hoa, thói rất là xấu. Đài quan Đồng Hanh Phát bẩm với thái uý Khả rằng: "Lối hát ấy là thói dâm tục xấu, không nên cho người hát nhảm trước xa giá". Khả liền sai cấm hẳn.

Ngày Nhâm Ngọ, vua đến Lam Kinh, làm lễ bái yết lăng miếu (5). Hãy tạm đặt ra ngoài thái độ của vương triều Lê Thái Tông với một loại diễn xướng dân gian thời ấy,  những dòng ghi chép của tác giả Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy người dân Thanh Hoá nói chung, người dân Lam Kinh nói riêng là khách thể, là đối tượng tham gia vào nghi lễ của các vua Lê và quần thần khi về Lam Kinh. Mặt khác, cũng vua Lê Nhân Tông vào năm 1449, đã cho múa nhạc Bình Ngô phá trận khi ban yến cho các quan vào mùa xuân: "Tháng giêng, ban yến cho các quan, múa nhạc Bình Ngô phá trận. Trước kia Thái tổ dùng vũ công định thiên hạ, Thái tôn nhớ lại công trước, làm khúc nhạc múa Bình Ngô. Đến đây, vua nghĩ đến việc sáng nghiệp khó nhọc, không quên công của tổ tiên, lại sai múa khúc nhạc ấy, công thần có người cảm xúc đến phải khóc" (6). Năm 1456, khi về Lam Kinh bái yết sơn lăng, vua Lê Nhân Tông đã ra lệnh: “Phàm các việc ở đền thờ cần phải thành kính, tinh khiết, như việc chặt cây chặt tre, kiếm lấy củi đóm. Tế tẩm miếu dùng 4 con trâu, đánh trống đồng, quân lính hò reo ứng theo. Về nhạc, vũ thì múa nhạc Bình Ngô phá trận, văn thì múa nhạc Chư hầu lai triều” (7).

Nhìn lại tư liệu lịch sử ấy, để thấy khởi thủy của lễ hội Lam Kinh là nghi lễ của vương triều. Sau khi nhà Lê suy vong, thăng trầm lịch sử, dâu bể cuộc đời khiến cho cả di tích lẫn lễ hội đều mai một, những nghi lễ của vương triều nhà Lê chỉ còn qua ghi chép của các nhà nho của vương triều nhà Lê, nhà Nguyễn. Tuy nhiên, cần thấy trong hơn ba, bốn trăm năm qua, cái mai một là lễ bái yết sơn lăng, bái yết Lam Kinh, bái yết lăng miếu gắn với vương triều nhà Lê không còn, chứ không thể nói rằng lễ hội Lam Kinh không còn hay mai một!? Mấy trăm năm qua, người dân làng Cham (xã Xuân Lam, Thọ Xuân), đền vua Lê (phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá), đền Tép (làng Thành Sơn, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lạc) v.v… vẫn tổ chức lễ hội. Bởi vậy, vấn đề của lễ hội Lam Kinh không chỉ là sự chuyển đổi của nghi lễ một vương triều thành lễ hội dân gian mà vẫn có một đường dây tín ngưỡng là việc thờ phụng nhân vật lịch sử. Lễ hội Lam Kinh là lễ hội thờ nhân vật lịch sử, thực chất lễ hội Lam Kinh (dù là lễ bái yết sơn lăng của vương triều nhà Lê hay lễ hội của dân làng Cham, làng Tép, làng Bố Vệ) là lễ hội thờ nhân vật lịch sử. Giáo dục truyền thống lịch sử, biết ơn nhân vật lịch sử, tưởng niệm nhân vật lịch sử là mục đích tối thượng của lễ hội truyền thống kiểu lễ hội Lam Kinh. Lịch sử là một dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai, lễ hội thờ các nhân vật lịch sử Lê Lợi, Lê Lai, rõ ràng phải là một lễ hội phải mang tầm vóc lớn hơn, quy mô hơn, hoành tráng hơn. Phục dựng lễ hội Lam Kinh truyền thống, phải xác định phục dựng một lễ hội lịch sử, người dân tổ chức lễ hội truyền thống, nhằm tưởng niệm lịch sử. Công việc ấy, có thể nói không hề đơn giản.

Để thực hiện công việc phục dựng, nhóm thực hiện dự án phục dựng lễ hội Lam Kinh năm 2005 đã tiến hành nghiên cứu điền dã và thư tịch. Kết quả, dự án do PGS.TS. Bùi Quang Thắng chủ trì đã khôi phục lễ cáo yết của người Mường tại đền Tép - nơi thờ Lê Lai; khôi phục lễ rước của đền vua Lê với sự tham gia của gần 500 người dân ở xã Xuân Lam và làng Cham, thị trấn Lam Sơn, lễ rước của đền Tép với khoảng 300 người dân gồm đội cờ, đội rồng, đội kiệu, đội chấp kích, đội bát âm, đội tế nam, đội dân binh và đội thiếu nữ Mường; khôi phục nghi lễ giao kiệu khi kiệu vua Lê gặp kiệu Lê Lai và đám rước chung của cả hai đoàn rước kiệu Lê Lợi và kiệu Lê Lai; tổ chức ở làng Cham, thị trấn Lam Sơn một đội trống, chiêng (21 trống, 4 chiêng và 4 cặp não bạt), luyện tập, hoà tấu ở trình độ nghệ thuật cao những bài trống để phục vụ những nghi lễ, diễn xướng chính của lễ hội; truyền bá trò diễn kéo chữ “Thái - Bình” với sự tham gia của 200 người dân, trò diễn “Diễu quân” với sự tham gia của gần 300 người dân; tổ chức cho người dân làng Tép (xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc) tập luyện trò diễn múa rồng và các trò chơi dân gian khác. Trong hai trò diễn mà thời vua Lê Nhân Tông cho thực hiện ở Lam Kinh, hiện tại chưa phục dựng được trò diễn Bình Ngô phá trận, nhưng đã đưa trò Xuân phả vào diễn trình của lễ hội coi như trò diễn Chư hầu lai triều. Đề án được thực hiện năm 2005, duy trì ở năm sau theo đề án được phê duyệt, nhưng đến các năm gần đây, ngành văn hóa, thể thao và du lịch lại trở về cách tổ chức cũ: đưa các diễn viên đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của tỉnh về đóng những vai như đọc văn tế, trình diễn những nghi lễ trong ngày lễ chính. Đây là bước thụt lùi về quan điểm phục dựng lễ hội của ngành văn hóa, thể thao và du lịch địa phương.

1.2. Trường hợp lễ hội Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương)

Lễ hội Kiếp Bạc lại là một trường hợp khác. Trước đây, người dân Kiếp Bạc (8) mở lễ hội ngày 20 tháng 8 hàng năm, đó là ngày chính hội, nhưng từ ngày rằm, khách thập phương đã kéo về, bến sông thuyền các nơi kéo về đậu chật bến. Diễn trình gồm lễ tế, lễ rước. Bài vị đức Thánh Trần được đặt trên kiệu sơn son thếp vàng, đi qua tam quan rước ra bờ sông. Kiệu có bài vị của đức Thánh Trần được rước lên thuyền rồng để rước trên sông chừng 2 tiếng đồng hồ rồi rước trở về. Theo TS. Phạm Lan Oanh, diễn trình của lễ hội được tổ chức như sau: “Dẫn đầu là 2 lá cờ của Thiên Đế ban cho Đức Thánh khi ngài hiển linh và trở thành Thượng Đẳng Tối Linh Thần. Tiếp theo là 5 lá cờ ngũ sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen tượng trưng cho ngũ hành, 5 đạo quân. 8 lá cờ bát quái thêu tên 8 quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Chiêng trống tượng trưng cho hiệu lệnh của đức thánh, voi ngựa, tàn tán, nghi trượng, bát bảo v.v… kiệu thần làm thành một đoàn rước hoành tráng… Dân làng Vạn Yên trước kia có 8 giáp, phân công mỗi giáp chuẩn bị 4 thuyền. Dân làng Dược Sơn có 4 giáp, mỗi giáp chuẩn bị 7 thuyền. Thuyền chỉ gồm hai loại. Thuyền nan nhỏ chở được 4 đến 6 người, thuyền gỗ lớn hơn, chở được 8 đến 12 người. Thuyền lớn sẽ chở đồ nghi trượng, đồ lễ. Thuyền nhỏ chở quan viên hàng giáp và đội cờ, đội nhạc. Vào ngày chính hội 20 tháng tám, từ sáng sớm, dân làng Vạn Yên có mặt tại chùa Bắc Đẩu, dân làng Dược Sơn có mặt tại chùa Nam Tào để chờ hiệu lệnh nghênh rước đồ xuống thuyền đậu trước bến sông. Theo thứ tự quy định, dân hai làng tuần tự chia thành hai hàng song song trong đám rước. 10 thuyền rước cờ đi đầu. 5 cờ ngũ hành bên tả, bên hữu đi đầu là cờ thêu chữ Trần (Đông A), tiếp theo là 4 cờ tứ linh long ly quy phượng.

4 thuyền chở đội bát âm.

2 thuyền chở thủ hiệu trống và thủ hiệu chiêng.

4 thuyền chở bát bửu và chấp kích.

16 thuyền của 8 giáp làng Vạn Yên và 8 thuyền của 4 giáp làng Dược Sơn đều sắm lễ chay gồm bánh trái hoa quả và lễ mặn có lợn gà, xôi, bánh… nối tiếp nhau thành đoàn rước thánh.

Thuyền chở long đình nối tiếp thuyền lễ vật rước cỗ tiến thánh. Trên long đình có ngũ quả, hương hoa và văn tế thánh. Hai bên thuyền chở long đình có thuyền nhỏ chở tàn và lọng đi kèm. Tiếp theo là thuyền chở long kiệu với 8 đô tùy trai tráng đi theo. 2 thuyền chở đội tế và theo sau là các thuyền chở bô lão, quan viên chức sắc và nhân dân trong vùng cùng các vùng lân cận tham dự lễ rước thành đoàn dài mấy cây số” (9).

Nói đến lễ hội Kiếp Bạc, là nói tới một sinh hoạt văn hóa dân gian từng tồn tại ở đây trước kia: lên đồng. Truyền thuyết vẫn kể rằng Trần Quốc Tuấn là Thanh tiên đồng tử giáng sinh. Thượng đế phái Thanh Tiên đồng tử xuống trần gian, mang theo phi thần kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, ngũ tài của Thái Công, giáng sinh vào một nhà thân vương, làm danh tướng, trừ họa cho dân, cứu nạn cho nước, khi mất trở thành phúc thần. Vì thế, dòng thanh đồng hay đến nơi thờ Trần Quốc Tuấn để hầu đồng. Trước năm 2006, hầu đồng vẫn là một sinh hoạt văn hóa dân gian bị cấm đoán*. Ngành văn hóa - thông tin (cũ) tỉnh Hải Dương đã xây dựng một Đề án tổ chức lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc. Trong 5 ngày, từ 7-10 đến 11-10-2006, lễ hội Kiếp Bạc đã tổ chức với các hành động hội: lễ cáo yết, lễ ban Ấn, lễ tưởng niệm anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và liên hoan các diễn xướng dân gian hầu Thánh. Để tổ chức được liên hoan diễn xướng dân gian hầu Thánh, chúng tôi ý thức rất rõ đây là một công việc “nhạy cảm”, nên đã báo cáo Thường trực Tỉnh ủy Hải Dương rất cẩn thận, chi tiết để xin chủ trương chấp thuận. Giải pháp mà Ban tổ chức phải thực hiện là xây dựng một sân khấu ngoài trời, trong không gian thiêng của di tích, các ông đồng, bà đồng đã trình diễn các diễn xướng dân gian, thực hiện các giá đồng ngoài sân, trên sân khấu, nên không xuất hiện tình trạng các ông đồng, bà đồng phán bảo con nhang đệ tử. Bởi, thông thường, phải trước thần điện, trước đức Thánh Trần thì các ông đồng, bà đồng mới bị “ốp” để phán bảo. Thành thử, liên hoan các diễn xướng dân gian hầu Thánh hoàn toàn chỉ còn là việc trình diễn các diễn xướng dân gian liên quan đến các giá đồng, vốn là các nhân vật lịch sử - văn hóa của dân tộc. Các thanh đồng không có sự “phán bảo” khi trình diễn. Từ ấy đến nay, liên hoan diễn xướng dân gian hầu Thánh được tổ chức vào dịp lễ hội Kiếp Bạc. Cộng đồng cư dân trong vùng, nhất là những người có “căn đồng”, được thỏa mãn một nhu cầu của họ, và người dân được chiêm ngưỡng quan sát những giá đồng tái hiện những nhân vật lịch sử - văn hóa của dân tộc.

1.3. Trường hợp lễ hội Tịch điền Đọi Sơn (tỉnh Hà Nam)

Khác với lễ hội Lam Kinh (tỉnh Thanh Hóa), lễ hội Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương), lễ hội Tịch điền Đọi Sơn (tỉnh Hà Nam) lại là một trường hợp khác biệt hơn. Vào thế kỷ thứ X, Lê Hoàn (941-1005) lên ngôi vua năm 980, cai quản đất nước. Ông là vị vua mở đầu cho lễ Tịch điền khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều quân chủ về sau noi theo để khuyến khích phát triển nông nghiệp: “Đinh Hợi, năm thứ 8 (987)… Mùa xuân, vua bắt đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải, được một chĩnh nhỏ bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim Ngân” (10). “Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động Giang cày ruộng tịch điền” (11). “Mậu Dần, năm thứ 5 (1038),… mùa xuân tháng 2, vua ngự ra Bố Hải Khẩu cày ruộng tịch điền. Sai quan dọn cỏ đắp đàn. Vua thân tế Thần Nông xong, cầm cày muốn làm lễ tự cày, các quan tả hữu có người can ngăn rằng: “Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế?”. Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng suất thiên hạ?". Thế rồi đẩy cày ba lần rồi thôi” (12). Đến nhà Lê, thời vua Lê Thánh Tông “Quý Tỵ, Hồng Đức năm thứ tư (1473),… mùa xuân tháng giêng, vua thân đi cày ruộng Tịch điền và đốc xuất các quan cày” (13). Thời vua Lê Hiến Tông, năm 1499: “Cày ruộng tịch điền” (14). Thời vua Lê Tương Dực, năm 1514, “Vua cày ruộng tịch điền” (15). Sử gia Phan Huy Chú sau này chép: “Xét: Đời xưa, Thiên tử lấy ngày tế trời ở đàn Nam Giao, tế phối thần Hậu Tắc để làm lễ cầu được mùa. Tế xong, vua thân đi cày ở Tịch điền. Nước Việt ta từ nhà Lý về trước còn theo lễ chế cổ, hàng năm, ngày đầu xuân vua ra đồng cày Tịch điền… Đến đầu nhà Lê thì theo lễ chế nhà Minh, lấy ngày đầu xuân hợp tế Trời Đất, mà ngày cày Tịch điền thì chỉ tế thần Hậu Tắc mà không tế Trời nữa. Nhưng trong khoảng các đời Quang Thuận, Hồng Đức, vua còn thân làm lễ, đem quần thần đi cày, còn là không bỏ lễ chế cổ. Đến Trung Hưng về sau, chúa Trịnh đến đàn tế thay việc của vua, mà lễ cày Tịch điền thì ủy cho Phủ doãn làm…” (16). Đến triều Nguyễn, lễ Tịch điền được tổ chức quy mô, do bộ Lễ chủ trì với những quy định cụ thể, và thời vua Khải Định, lễ Tịch điền không được tổ chức nữa. Như vậy, lễ Tịch điền là nghi lễ quan trọng của các vương triều quân chủ ở những quốc gia mà phương thức canh tác chủ yếu là trồng lúa nước. Coi lễ Tịch điền là một di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một, nhóm thực hiện dự án do PGS.TS. Bùi Quang Thắng làm chủ nhiệm đã phục hồi lễ hội này gồm các nghi lễ và diễn xướng như rước chân nhang thờ Lê Đại Hành từ đền Lăng, xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm về xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam, lễ rước nước, lễ sái tịnh. Nghi lễ chính là “nhà vua” đi cày. Từ năm 2009, lễ hội này được phục hồi. Năm 2010, lần đầu tiên, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã về dự lễ Tịch điền, mặc áo nông dân, cầm cày, cày những đường cày đầu tiên. Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại về dự lễ Tịch điền và cầm cày, cày những đường cày đầu tiên. Như vậy là, lễ Tịch điền đã được phục hồi, trở thành một sinh hoạt văn hóa tiêu biểu cho lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam từ năm 2009 đến nay.

Với các nhà quản lý ở tỉnh Hà Nam, lễ Tịch điền Đọi Sơn được phục dựng, tiến hành là một mong muốn được thực hiện. Vấn đề không chỉ dừng ở phục dựng một lễ hội truyền thống đã mai một mà còn là một cơ hội tạo ra cú hích cho sự phát triển du lịch của tỉnh, cho quảng bá hình ảnh của tỉnh. Ông Nguyễn Như Lâm, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh bày tỏ: “Lễ hội Tịch điền được khai mạc, đây là một điểm nhấn về văn hóa đối với người dân vùng chiêm trũng và người dân trồng lúa. Chúng tôi rất là phấn khởi, rất là vinh dự và rất là tự hào cùng với bà con nhân dân tham gia cày tịch điền tại cái vùng ruộng mà nơi đây, cách đây hơn 1.000 năm vua Lê Đại Hành tham gia cày tịch điền tại đây. Và chúng tôi hy vọng rằng, từ cái lễ hội Tịch điền nó sẽ quảng bá cho Hà Nam và phát triển sang một số khu du lịch khác và gắn du lịch với du lịch tâm linh, gắn du lịch với văn hóa của tỉnh Hà Nam” (17). Người lãnh đạo ngành văn hóa, thể thao và du lịch địa phương, ông Trần Quốc Hùng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam phấn khởi: “Nước ta có 70% dân số là nông dân, vì vậy, lễ Tịch điền hoàn toàn có thể phục dựng thành quốc lễ từng tồn tại trong quá khứ. Nhân dân Hà Nam mong muốn, sau này sẽ có sự công nhận và giúp sức của các cơ quan ban ngành từ Trung ương để lễ Tịch điền dần trở lại được với vai trò vốn có của nó, trước khi được chính thức trở lại thành quốc lễ” (18).

1.4. Không chỉ là những trường hợp đơn lẻ

Không chỉ ba lễ hội trên, phục dựng lễ hội truyền thống đang là một nhu cầu có thực của người dân ở các vùng miền và cán bộ quản lý văn hóa các cấp. Năm 2008, Cục Văn hóa Cơ sở thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đã cùng các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch điều tra, thống kê, để xuất bản được một bộ sách thống kê về các lễ hội truyền thống của tất cả các tỉnh trong cả nước, với một con số: gần 8.000 lễ hội truyền thống (19). Nhiều làng quê, lễ hội truyền thống đã thất truyền, đã mai một nên lễ hội truyền thống của làng xã không có trong danh mục thống kê này. Vì vậy, mong muốn phục dựng lễ hội truyền thống ở các làng xã khá mãnh liệt; có cả thái độ tích cực muốn phục dựng lễ hội của làng quê mình, nhưng không phải không có thái độ, không muốn làng mình thua kém các làng quê khác. Vấn đề đặt ra là sự phục hồi ấy có đúng với bản chất của lễ hội truyền thống hay không? Có cần thiết hay không? Thực ra, với tính chất lễ hội truyền thống là một thực thể văn hóa, tồn tại trong tâm thức con người, trải qua thời gian, trải qua các thế hệ, sự biến đổi của nó tất yếu sẽ diễn ra. Người dân các thế hệ có thể “thêm vào” hay “bớt đi” một số trò diễn, trò chơi, hay nghi thức nào đó. Minh chứng cho điều ấy chúng ta có thể thấy từ sự quan sát của GS.TS. Nguyễn Văn Huyên với hội Gióng ở đền Phù Đổng vào năm 1938: “Vào năm 1938, nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên đã ghi nhận được một chi tiết thú vị về tính linh hoạt trong cách ứng xử của hội Gióng mà ít người nhận ra. Ông dự hội năm 1937 và năm 1938 ông lại tham dự một lần nữa.

Nhờ sự tỉ mỉ, cụ thể và tinh tế, ông nhận ra rằng có 3 khúc hát mới do phường Ải Lao trình bày đã xuất hiện năm này (1938). Ông đã kể về bối cảnh của sự thay đổi đó: viên tri huyện Tiên Du (làng Phù Đổng thuộc huyện này) năm trước cũng dự lễ hội này và cho rằng ca khúc đó không mấy giá trị, không xứng đáng với Đại linh được tôn thờ ở đây.

Vừa hay, người trợ tá của ông lại là một nho sĩ của nền cổ học. Thế là, các quan chức trong huyện bấy giờ mới bắt tay vào việc sáng tạo ra bài thơ 8 câu theo thể lục bát. Bài thơ được chuyển cho phường Ải Lao hát. Các ca sĩ của phường đã linh hoạt sử dụng lời mới nhưng giữ làn điệu cũ. Trong bản tiếng Pháp, ông Huyên viết: "đoàn ca sĩ hát lên những bài ca đó theo nhịp vốn có của chúng bằng cách biến cải hai câu hát liên tiếp thành một đoạn ca 6 câu” (20).

Như vậy, cuộc đời sẽ chấp nhận những sáng tạo hợp lý như ý kiến của Heghen: cái gì hợp lý thì tồn tại, cái gì tồn tại thì hợp lý. Sáng tạo những tình tiết mới, hoạt động mới cho lễ hội truyền thống, nếu nó phù hợp, ắt những sáng tạo ấy sẽ tồn tại. Mấy chục năm đã trôi qua, mấy khúc hát của một nhà nho là trợ tá của viên tri huyện huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 1938 đã tồn tại, được cộng đồng chủ nhân của lễ hội thờ Thánh Gióng đền Phù Đổng chấp nhận. Suy rộng ra, có thể phục dựng được những lễ hội truyền thống đã thất truyền, đã mai một, nếu người làm công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể nói chung, công tác phục dựng lễ hội truyền thống nói riêng tuân thủ và tôn trọng những nguyên tắc của công tác này, cũng như giải quyết thật tốt các vấn đề đặt ra trong quá trình phục dựng lễ hội truyền thống.

2. Tư liệu thành văn hay tư liệu điền dã, tư liệu ký ức?

Phục dựng lễ hội truyền thống đã mai một, đã thất truyền là một công việc khoa học, nhưng mang tính chất nghệ thuật, đó không chỉ là công việc của người làm công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, mà còn là công việc của một nhà tổ chức sự kiện, đạo diễn lễ hội. Yếu tố quan trọng là phải tạo dựng một đường dây sự kiện liên quan đến nhân vật phụng thờ, mà lâu nay, người ta hay gọi là “kịch bản lễ hội”. Để sắp xếp được trình tự, diễn biến của các thành tố trong lễ hội truyền thống, người làm công tác tổ chức lễ hội truyền thống phải có tư liệu về lễ hội truyền thống dự kiến phục hồi. Đặc điểm chung của ba lễ hội truyền thống Lam Kinh, Kiếp Bạc và Tịch điền Đọi Sơn là các lễ hội truyền thống này đã mai một, tuy mức độ mai một, thất truyền có khác nhau.

Với lễ hội Lam Kinh, thực ra ghi chép về lễ hội chỉ còn mấy dòng ngắn ngủi trong thư tịch. Các cán bộ thực hiện dự án Phục hồi lễ hội Lam Kinh năm 2005, do PGS.TS. Bùi Quang Thắng chủ trì đã tiến hành điều tra điền dã tại các cộng đồng có liên quan như người dân làng Cham, thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Điều thú vị là người dân còn nhớ khá nhiều các chi tiết về lễ hội Lam Kinh trước năm 1945. Ông Đỗ Văn Yên, 82 tuổi (vào năm 2005), quê thôn Phú Lâm, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa nhớ rõ: “Trước năm 1945, lễ hội ở đây, tức lễ hội Lam Kinh - N.C.B ghi chú, do dân làng làm… lễ vật ở làng Tép là cỗ 3 tầng” (21). Ông Bùi Văn Quang, 61 tuổi vào năm 2005, quê tại làng Thành Sơn, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa nhớ: "Ngày xưa chơi đu, ném còn, kéo co, bắn cung, bắn nỏ. Đó là những trò chơi dân gian. Chúng tôi muốn đề nghị để khôi phục lại cái đó để ngày lễ hội mang tính chất là phong tục của địa phương nơi đây" (22). Với những tư liệu điền dã ấy, các cán bộ thực hiện dự án đã xây dựng một “kịch bản tổng thể”, rồi đưa kịch bản này đến cộng đồng thảo luận, góp ý. Các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra những phác thảo ban đầu, cộng đồng (gồm đại diện trực tiếp, người quản lý ở địa phương, cán bộ quản lý) sẽ góp ý những chi tiết. Với một kịch bản lễ hội như vậy, khi triển khai phục dựng lễ hội Lam Kinh, nhóm cán bộ thực hiện dự án Phục hồi lễ hội Lam Kinh năm 2005 đã khắc phục được những thiếu thốn của tư liệu thư tịch, tư liệu thành văn.

Với lễ Tịch điền, tư liệu về lễ tịch điền rất ít chủ yếu là tư liệu về lễ tịch điền thời Nguyễn của vua Gia Long. Cần thấy, không ai dám khẳng định lễ tịch điền thời Nguyễn là nguyên mẫu từ thời nhà Tiền Lê, qua nhà Lý, đến nhà Trần rồi nhà Lê. Mà có thể sau này nhà Nguyễn điển chế hóa nó, xây dựng bổ sung thêm rất nhiều. Phục dựng lễ Tịch điền thì chúng tôi chỉ sử dụng hạt nhân cơ bản nhất, tức là xác định đây là một nghi lễ khởi đầu mùa màng vào dịp đầu năm mới.

Cần phải thấy ở Việt Nam có rất nhiều nghi lễ mở đầu năm mới. Tịch điền là nghi lễ mở đầu hoạt động cho một năm của cư dân trồng lúa nước, là một hành động động thổ đầu tiên, bắt đầu những đường cày đầu tiên của một mùa vụ mới. Nghi lễ này thiêng liêng ở chỗ nó được thực hiện bởi người đứng đầu của một quốc gia, của một vương triều. Chúng tôi đề nghị với tỉnh Hà Nam là giữ lấy hạt nhân cơ bản đó thôi chứ cũng không quá phụ thuộc vào tư liệu về lễ tịch điền của nhà Nguyễn. Xử lý quan hệ giữa tư liệu thư tịch, tư liệu điền dã và tư liệu ký ức, phải chăng ý kiến của Eric Hobsbawm đáng cho chúng ta suy ngẫm: “Đáng chú ý hơn, từ quan điểm của chúng ta, là việc sử dụng các nguyên liệu cổ để xây dựng nên các truyền thống được sáng tạo từ một dạng tiểu thuyết cho những mục đích rất tiểu thuyết. Một lượng lưu trữ lớn những nguyên liệu như vậy luôn tích tụ lại trong quá khứ của bất kỳ xã hội nào, và thứ ngôn ngữ tinh vi của thực hành trừu tượng cùng giao liên thì luôn sẵn có. Đôi khi các truyền thống mới có thể được nhào nặn ra dễ dàng dựa trên nền truyền thống cũ, đôi khi chúng lại có thể được cấu thành bằng cách vay mượn từ những “kho chứa” dân gian luôn luôn sẵn hàng, nơi lưu trữ những lễ nghi chính thống, hệ thống hình tượng và nền tảng cổ vũ đạo đức” (23). Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những lễ hội truyền thống không xử lý thật tốt quan hệ giữa tư liệu thư tịch và tư liệu điền dã, tư liệu ký ức, nên dạng thức mới mẻ của sáng tạo truyền thống ở các lễ hội truyền thống được phục dựng đã trở nên giả tạo, tỏ ra không ăn nhập với đường dây tín ngưỡng của lễ hội ấy. Chẳng hạn, trong lễ hội đền vua Mai ở Nghệ An, một bản văn tế do một nghệ sĩ trình diễn không có sức lắng đọng, nhưng trong lễ Tịch điền, bài văn trình do lãnh đạo tỉnh đọc trước một ban thờ dựng lên giữa đồng lại có sức lôi cuốn và nó không tạo ra sự khập khiễng trong chuỗi sự kiện của lễ hội này. Bài văn tế vua Mai trong lễ hội đền vua Mai chính là một hiện tượng “giả” folklore.

3. Cộng đồng, chủ thể lễ hội truyền thống hay khách tham quan?

Lễ hội là sinh hoạt của cộng đồng, sinh ra trong cộng đồng, phục vụ cho nhu cầu của cộng đồng. Nguyên tắc cơ bản của phục dựng lễ hội truyền thống phải là xác định được vai trò của cộng đồng. Cộng đồng là chủ thể sáng tạo, nhưng cũng là khách thể tiếp nhận lễ hội truyền thống. Vì thế, phải đặt lên hàng đầu nguyên tắc lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa của người dân trong khi phục dựng lễ hội truyền thống. Khi tổ chức sinh hoạt văn hóa ấy đừng để người dân làm những vị khách tham quan đứng ở bên lề của lễ hội. Nhà quản lý không làm thay cộng đồng, không làm mất vai trò của cộng đồng. Đáng tiếc là trong quá trình phục dựng, phục hồi một số lễ hội truyền thống, nguyên tắc này đã không được chú trọng, và tuân thủ.

Vấn đề đặt ra trong việc phục dựng lễ hội Lam Kinh, vì vậy sẽ là quan niệm về chủ thể sáng tạo và khách thể tiếp nhận của lễ hội vùng Lam Kinh. Nếu xác định bản chất của lễ hội vùng Lam Kinh là lễ hội thờ nhân vật lịch sử thì chủ thể sáng tạo, bảo tồn, lưu giữ lễ hội phải là người dân vùng Lam Kinh. Thời trước, các vua quan nhà Lê giữ vai trò người bái yết sơn lăng, còn người diễn trò, diễn tích và thực thi toàn bộ lễ hội, phải là toàn bộ nhân dân vùng Lam Kinh. Chủ thể sáng tạo lễ hội Lam Kinh là người dân vùng Lam Kinh, vì vậy sự chuyển đổi về mặt nguyên tắc trả vai trò chủ thể của lễ hội cho cộng đồng người dân, các cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò tổ chức, quản lý là một chủ trương đúng về mặt lý luận. Kết quả, dự án Phục hồi lễ hội Lam Kinh năm 2005 đã khôi phục lễ cáo yết của người Mường tại đền Tép - nơi thờ Lê Lai; khôi phục lễ rước của đền vua Lê với sự tham gia của gần 500 người dân ở xã Xuân Lam và làng Cham, thị trấn Lam Sơn, lễ rước của đền Tép với khoảng 300 người dân gồm đội cờ, đội rồng, đội kiệu, đội chấp kích, đội bát âm, đội tế nam, đội dân binh và đội thiếu nữ Mường; khôi phục nghi lễ giao kiệu khi kiệu vua Lê gặp kiệu Lê Lai và đám rước chung của cả hai đoàn rước kiệu Lê Lợi và kiệu Lê Lai; tổ chức ở làng Cham, thị trấn Lam Sơn một đội trống, chiêng (21 trống, 4 chiêng và 4 cặp não bạt), luyện tập, hòa tấu ở trình độ nghệ thuật cao những bài trống để phục vụ những nghi lễ, diễn xướng chính của lễ hội; truyền bá trò diễn kéo chữ “Thái - Bình” với sự tham gia của 200 người dân, trò diễn “Diễu quân” với sự tham gia của gần 300 người dân; tổ chức cho người dân làng Tép (xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc) tập luyện trò diễn múa rồng và các trò chơi dân gian khác. Thực tế, lễ hội Lam Kinh 2005 đã thành công tốt đẹp. Sau lễ hội, trong Hội thảo khoa học “Phục hồi lễ hội Lam Kinh, lý luận và thực tiễn”, các nhà khoa học, nhà quản lý đã khẳng định tính đúng đắn về chủ trương và hiệu quả tâm lý xã hội của lễ hội Lam Kinh 2005. Người dân hồ hởi, phấn khởi vì được nhận vai trò chủ thể vốn có của họ trong tổ chức, thực hiện lễ hội, chứ không còn đóng vai khán giả, khách tham quan như những mùa lễ hội đã qua, đứng ngoài xem các diễn viên của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của tỉnh trình diễn các trò diễn lễ hội của quê hương mình. Chưa kể, tác dụng của dự án về mặt kinh phí, đã tiết kiệm rất nhiều cho ngân sách nhà nước, về mặt quản lý nhà nước, ngành văn hóa thông tin cũ, đã thực hiện đúng vai trò của mình, không phải “làm thay” cho người dân.

Đáng tiếc là, dự án Phục hồi lễ hội Lam Kinh năm 2005 chỉ thực hiện được năm đầu và duy trì qua năm sau. Rồi ngành văn hóa thông tin (nay là ngành văn hóa, thể thao và du lịch) địa phương lại bỏ tất cả những kết quả đã đạt được, tổ chức lễ hội Lam Kinh như mô hình cũ: đưa diễn viên chuyên nghiệp từ thành phố Thanh Hóa về “làm thay” người dân Lam Kinh ở mọi khâu mà họ cho là quan trọng!?. Thực ra, họ đã nhà nước hóa công tác phục dựng lễ hội truyền thống, khiến cho người dân bị mất vai trò chủ thể lễ hội, trở thành người khách tham quan, đứng bên lề xem những trình diễn văn hóa, vốn là di sản văn hóa phi vật thể mà tổ tiên của họ trao truyền cho họ từ bao đời nay, do các diễn viên chuyên nghiệp thực hiện một cách vô hồn!

Vấn đề đặt ra trong phục dựng lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, còn khó khăn hơn nhiều cho nhóm thực hiện đề án do PGS.TS. Bùi Quang Thắng chủ trì. Tư liệu thành văn, hầu như không có gì, là một khó khăn cho những người thực hiện, nhưng là cơ hội để tạo cho người dân phát huy vị thế vừa là chủ thể, vừa là khách thể của mình. Suốt trong thời gian trước lễ hội diễn ra, nhóm công tác đã chủ động khai thác những di sản văn hóa phi vật thể của địa phương, rồi triển khai khai thác khả năng thực hiện của người dân trong vùng, ví dụ khả năng đánh trống của người dân làng Đọi Tam, múa rồng của cư dân trong xã v.v… Quả thực, người dân xã Đọi Sơn đã thể hiện vai trò chủ thể sáng tạo của mình từ khâu tham gia tập luyện đến tham gia các diễn xướng của lễ hội. Những người phụ nữ làng Đọi Tam đã tự nguyện bỏ tiền mua trống, trang phục tham gia luyện tập như đội rồng, đội cờ, đội nghi lễ. Theo nhóm phục hồi lễ hội Tịch điền Đọi Sơn năm 2009, “trong quá trình tập duyệt, ban tổ chức lễ hội cũng hỗ trợ kinh phí cho người tập là 20.000đ/ngày, nhưng những người dân ở đây nói rằng, với số tiền đó đối với họ chẳng là bao, vì với họ chẳng cần đi đâu xa làm thuê ở trong làng trong các xưởng trống, hoặc phụ xây… cũng có thể kiếm được 50.000 - 70.000đ/ ngày. Họ đi vì đó là lễ hội của chính họ, một người tâm sự: "Vì công việc chung của xã nên ai cũng nhiệt tình tập luyện, chưa bao giờ chúng tôi có một lễ hội to và đẹp như thế này" (24).

Bởi tham gia vào quá trình phục dựng lễ hội như một chủ thể sáng tạo nên người dân Đọi Sơn rất phấn khởi. Cụ Nguyễn Cộng Hòa ở thôn Đọi Trung, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, 80 tuổi vào năm 2009, phấn khởi: “Tôi đã ở cái tuổi "gần đất xa trời" rồi vậy mà năm nay lại được chứng kiến tận mắt lễ hội Tịch điền của quê hương, phấn khởi lắm. Đảng, Nhà nước đã quan tâm khôi phục lại lễ hội truyền thống của tổ tiên không chỉ giữ gìn nét đẹp truyền thống của cha ông để lại mà còn giáo dục thế hệ con cháu đời sau tiếp bước cha ông xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp” (25). Nói cách khác, cộng đồng đã thực hiện tất cả công việc của quá trình phục dựng với tư cách là chủ thể sáng tạo. Theo Cao Trung Vinh, người tham gia nhóm phục hồi lễ hội Tịch điền Đọi Sơn năm 2009, ông Phạm Tư Lành, Bí thư Huyện ủy huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã phát biểu: “Chúng tôi đánh giá rất cao cái vai trò của các tầng lớp nhân dân tham gia lễ hội, và trong thực tế của lễ hội Tịch điền, nhân dân tham gia từ các hoạt động lễ hội cho đến các hoạt động cày, tất cả phần lễ phần hội do nhân dân và các tín đồ phật tử tham gia và tôi nghĩ rằng với một tinh thần như vậy thì từ những năm sau thì lễ hội chắc chắn sẽ là một truyền thống của địa phương" (26).

Như thế, phục dựng lễ hội truyền thống luôn đứng trước một thách thức: làm sao để cộng đồng thực sự là chủ thể sáng tạo của lễ hội, chứ không phải là khách tham quan, đứng bên lề đường, bên ngoài “không gian thiêng” của lễ hội xem lễ hội của quê hương mình, làng xã mình. Xu hướng khá phổ biến trong đời sống văn hóa hiện nay là một số lễ hội, festival đương đại đã bị hành chính hóa, quan phương hóa, do các đoàn nghệ thuật tỉnh hoặc Trung ương thực hiện. Nhiều lý do được đưa ra để biện luận cho cách làm này: nào là đây là nghi lễ quan trọng mang tầm cấp tỉnh, cấp trung ương chỉ diễn viên đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp mới tác nghiệp được, nào là kịch bản quy định như vậy v.v… Với những lễ hội được thực hiện như vậy, chưa kể những tốn kém cho ngân sách nhà nước, nỗi vất vả của cơ quan quản lý nhà nước v.v…, hậu quả là lễ hội nhanh chóng rơi vào quên lãng, bởi chúng không khác một cuộc “mít tinh” là bao?!

4. Bảo tồn “nguyên gốc” hay sáng tạo truyền thống

Như vậy là, phục dựng lễ hội truyền thống, qua ba lễ hội truyền thống mà Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam thực hiện phục dựng trong khuôn khổ của Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa các năm qua là một quá trình sáng tạo truyền thống. “Thuật ngữ “truyền thống qua sáng tạo” được sử dụng theo một nghĩa rộng, tuy nhiên không hẳn là thiếu chính xác. Nó bao gồm những “truyền thống” thực tế đã được sáng tạo ra, được xây dựng thành, được hợp thức hóa; và bao gồm cả những gì đang nhen nhóm theo một lối khó truy nguyên hơn, trong một khoảng thời gian ngắn và dễ xác định niên đại hơn – cứ cho là trong vòng vài năm chẳng hạn - nhưng lại có khả năng định hình nhanh chóng hơn trong tiềm thức cộng đồng” (27). Xác định điều ấy, tôi hiểu sẽ gặp tranh luận: lễ hội truyền thống nói riêng, di sản văn hóa phi vật thể nói chung cần bảo tồn theo quan điểm bảo tồn nguyên gốc, không được làm biến dạng di sản văn hóa phi vật thể. Vấn đề đặt ra là di sản văn hóa phi vật thể tồn tại trong tâm thức con người, mà con người luôn có các thế hệ khác nhau, và nó có thể bị biến đổi, vì con người, phục vụ cho mục đích hưởng thụ văn hóa của con người. Mặt khác, thế nào là nguyên gốc với một di sản văn hóa phi vật thể? Tính thời điểm cho sự nguyên gốc của một di sản văn hóa phi vật thể quả thực là công việc khó khăn không khác gì “mò kim đáy biển”. Khi xác định tính nguyên gốc đã khó khăn thì xác định tính truyền thống của di sản văn hóa phi vật thể càng khó khăn hơn. Chẳng hạn, với dân ca quan họ Bắc Ninh, xác định tính nguyên gốc thì nên lấy thời điểm nào: 1930, 1945, 1954?! Bài ca Ăn ở trong rừng do ông Nguyễn Đức Sôi, nguyên trưởng đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh sáng tác những năm sáu mươi của thế kỷ XX, có tính là truyền thống, là nguyên gốc cần được bảo tồn? Cộng đồng nghệ nhân, nghệ sĩ của Dân ca quan họ Bắc Ninh, chả mấy băn khoăn về bài Ăn ở trong rừng mới được sáng tác gần đây, họ vẫn coi nó là một sáng tác tuyệt vời, luôn trình diễn mà chả băn khoăn về tính truyền thống hay nguyên gốc của nó. Nghĩa là, cộng đồng có chấp nhận sáng tạo ấy hay không!*

Nói vậy, không có nghĩa sáng tạo truyền thống là sự phủ định bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, mà chúng cần hỗ trợ cho nhau, làm giàu cho nhau. Trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, hai hoạt động sáng tạo truyền thống và bảo tồn di sản phải được chú trọng như nhau. Phục dựng lễ hội truyền thống phải được chú trọng như bảo tồn lễ hội truyền thống.

5. Phát huy hay phát triển lễ hội truyền thống?

Câu chuyện phục dựng lễ hội truyền thống còn chịu một sức ép của truyền thông đại chúng. Cứ vào mùa lễ hội, câu hỏi thế nào là phát huy lễ hội truyền thống? Thế nào là phát triển lễ hội truyền thống? Làm thế nào để lễ hội truyền thống trở thành nội lực phát triển, nhất là phát triển du lịch lại rộ lên trên mặt các báo. Phát huy và phát triển, quả tình là các khái niệm không đồng nhất. GS. Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển giải nghĩa phát huy là “đem cái ý tứ thầm kín trong tâm lý mà phát triển cho rộng” *(28). Từ điển tiếng Việt của nhóm các tác giả Nguyễn Ngọc Bích, Trần Thu Hằng, Chu Anh Tuấn, Quang Úy, Quang Minh thì giải thích phát huy là “làm tỏa ra tác dụng tốt” (29). Trong khi đó từ phát triển được GS. Đào Duy Anh giải nghĩa: “mở mang ra” (30) và các tác giả Từ điển tiếng Việt giải thích: “mở mang từ nhỏ thành lớn” (31). Hai phạm trù này, mới nghe, tưởng là gần nghĩa, nhưng thực ra, có sự khác biệt. Phát huy giá trị của lễ hội truyền thống là làm cho nó phát lộ ánh sáng của nó, có thể sẽ không làm thay đổi cấu trúc, còn phát triển là sự thêm vào, mở mang các yếu tố của nó. Trong đời sống văn hóa hiện nay, nhiều festival* văn hóa được tổ chức, như festival dừa, festival cà phê, festival lúa gạo, festival Huế, festival biển v.v… Người ta cứ đinh ninh rằng, các festival này là sự phát huy lễ hội truyền thống, nhất là nó được gắn bó với câu chuyện phát triển du lịch của địa phương, như một hạt dẻ mầu nhiệm có khả năng biến lễ hội truyền thống thành con gà đẻ trứng vàng! Chưa bàn đến sự khác biệt đến mức căn bản giữa lễ hội truyền thống và festival đương đại, “phần lớn các lễ hội và sự kiện được tạo ra không chỉ để kiếm lợi nhuận. Chúng được hình thành từ nhu cầu sâu sắc hơn của cộng đồng trong việc kỷ niệm, biến đổi hay thăng hoa” (32). Nói khác đi tý chút, lễ hội truyền thống là câu chuyện của tín ngưỡng, của niềm tin dân dã, đôi khi thô ráp nhưng sâu lắng, mang vẻ xa mờ của thời tiền sử, nhưng cũng nóng hổi không khí của ngày hôm nay, nó không liên quan đến đồng tiền. Nó là câu chuyện của cộng đồng, cho nên cái phát triển phải được cộng đồng chấp nhận. Ghi nhận của GS.TS. Nguyễn Văn Huyên vào năm 1938 với những câu hát mới được sáng tạo, đưa vào hội Gióng, không gây ra phản cảm gì, rõ ràng đó là sự phát triển hợp lý, mà chúng ta luôn cần lưu ý khi quan sát các lễ hội truyền thống trên lát cắt đương đại. Bản chất di sản văn hóa phi vật thể không phải là một hiện tượng nhất thành bất biến mà luôn có sự thay đổi, đắp bồi của các thế hệ con người khác nhau. Bởi vậy, sự phát triển lễ hội truyền thống là điều từng xảy ra trong lịch sử. Trường hợp lễ hội Tịch điền là ví dụ rõ ràng nhất cho việc phát triển lễ hội truyền thống? Sử dụng các di sản từng có để cấu thành một sáng tạo truyền thống, trên một đường dây tín ngưỡng để xây dựng một chuỗi các sự kiện của ngày hội Tịch điền, phải chăng là một cách phát triển lễ hội truyền thống?!

Vấn đề còn lại là quan niệm về công việc phát huy giá trị của lễ hội truyền thống? Làm sao để những giá trị ấy trở thành tài sản của thế hệ hôm nay, lan tỏa trong cuộc sống hôm nay. Những gì là sáng tạo của cộng đồng, được cộng đồng chấp nhận sẽ có sức sống trong thời gian, những gì không là sáng tạo của cộng đồng, sẽ không tồn tại lâu dài với cộng đồng.Một vài festival đương đại của chúng ta, không có sức sống trong cộng đồng, bởi chúng không có tác động nhiều lắm trong cộng đồng.

Lời đóng

Phục dựng lễ hội truyền thống là một hoạt động sáng tạo truyền thống như lý thuyết của Eric Hobsbrawm và Terrence Ranger trong The invention of traditions. Nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã khiến một số lễ hội truyền thống ở các làng quê trong cả nước mai một, thất truyền? Nhu cầu của cộng đồng mong muốn các lễ hội ấy được phục hồi. Đáp ứng nhu cầu ấy là một công việc cần làm. Khoản 3, điều 25 của Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009 đã khẳng định: “Phục dựng có chọn lọc một số nghi thức lễ hội truyền thống” (33). Nghĩa là, ở Việt Nam, công việc này đã có một cơ sở pháp lý hẳn hoi. Tuy nhiên, nếu không đảm bảo những nguyên tắc, xử lý tốt các quan hệ, các chiều kích: tư liệu thư tịch, tư liệu điền dã, tư liệu ký ức và vai trò của cộng đồng, công việc ấy khó đạt được như chúng ta mong muốn. Những năm qua, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, trong vai trò cơ quan thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đã phục dựng một số lễ hội truyền thống. Có thể còn những tranh luận về các lễ hội được phục dựng ấy, nhưng tôi nghĩ, khởi dựng những sáng tạo văn hóa, tìm được tiếng nói đồng thuận, âu cũng là công việc khó. Thôi thì, nhìn từ phía cộng đồng, với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể của lễ hội truyền thống, người dân có được niềm vui, sự phấn khởi khi lễ hội của làng xã có từ xa xưa, tưởng đã mất, đã mai một lại được phục dựng để lưu trữ, thế là quý lắm rồi. /.

                              Thu năm Thìn, 2012

                                                  N.C.B

(Tạp chí Văn hóa học, số 4 - 2012)

_____________________

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, in lần 2, 1972, tập 3, tr. 74.

2. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.139, 164.

3. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, từ tr.173 đến tr. 313.

4. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tập 4, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, tr. 37.

5. Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1972, tập 3, tr. 139.  

6. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr. 150.

7. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.164.

8. Theo TS. Phạm Lan Oanh, Kiếp Bạc là tên ghép của hai làng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc) là nơi thờ phụng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Làng Vạn Yên còn được gọi là làng Vạn An, gọi nôm na là làng Kiếp, thời Nguyễn thuộc phủ Lạng Giang trấn Kinh Bắc. Làng Dược Sơn gọi nôm na là làng Bạc có nghĩa là bến sông, dưới thời Nguyễn thuộc trấn Hải Dương. Sau Cách mạng tháng Tám, Vạn Yên và Dược Sơn sáp nhập thành hai thôn của xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương vào năm 1946.

9. Đền Kiếp Bạc, lễ hội và di tích, bản thảo chưa xuất bản.

10. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, in lần 2, 1972, tr.171.

11. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr. 209.

12. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr. 214.

13. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr. 249.

14. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tập 4, tr.12.

15. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tập 4, tr.78.

16. Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch của Tổ phiên dịch, Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Sử học, tập 2, Hà Nội, 1961, tr. 203.

17. Chuyển dẫn từ Cao Trung Vinh, bài Phát triển lễ hội truyền thống - nhìn từ cộng đồng, qua trường hợp lễ hội Tịch điền Đọi Sơn và lễ hội Lảnh Giang - Hà Nam, in trong tập Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại, trường hợp hội Gióng, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2012, tr. 795.

18. Chuyển dẫn từ Cao Trung Vinh, bđd, tr.795.

19. Thống kê lễ hội truyền thống, Cục Văn hóa Cơ sở xb, Hà Nội, 2009.

20. Nguyễn Văn Huy, Tuần Việt Nam, Vietnamnet. vn ngày 17-2-2011.

21. Băng tư liệu của Dự án Phục hồi lễ hội Lam Kinh 2005 do PGS.TS. Bùi Quang Thắng chủ trì lưu trữ tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

22. Băng phỏng vấn của Dự án Phục hồi lễ hội Lam Kinh năm 2005 do PGS.TS. Bùi Quang Thắng chủ trì.

23. Bản tiếng Việt của Nguyễn Hoàng Nhị Hà, TS. Bùi Hoài Sơn hiệu đính, tạp chí Văn hóa học, số 1-2012, tr. 90.

24. Chuyển dẫn từ Cao Trung Vinh, bđd, 2012, tr. 796.

25. Chuyển dẫn từ Cao Trung Vinh, bđd, tr.796.

26. Cao Trung Vinh, bđd, tr.794.

27. Bản tiếng Việt của Nguyễn Hoàng Nhị Hà, bđd, tr. 85.

28. In lần thứ 3, Trường Thi xb, Sài Gòn, 1957, tập hạ, tr.102.

29. Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005, tr. 673.

30. Hán Việt từ điển, sđd, tập hạ, tr.104.

31. Sđd, tr. 674.

32. Jo Caust, bài Giữ gìn tính toàn vẹn của lễ hội, cách để không làm mất đi “con ngỗng vàng”, in trong tập Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội đương đại, trường hợp hội Gióng, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2012, tr. 347.

33. Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 44.




** PGS.TS. Nguyễn Văn Huy: "Tôi rất băn khoăn việc hàng loạt lãnh đạo nhà nước, từ cấp cao nhất đến các quan chức các Bộ ngành, các địa phương thực hành… làm lễ Tịch điền từ vài năm nay… Lễ Tịch điền xưa là nhà vua với tư cách là thiên tử của đất nước nông nghiệp, là con trời nên ông ta mở luống cày đầu năm mang ý nghĩa giao hòa Trời - Đất, cầu cho những mùa vụ bội thu, sinh sôi nảy nở. Thái Lan, Campuchia là nước quân chủ, còn vua nên vẫn giữ lễ này. Ở Việt Nam, lễ này đã mất từ lâu, ý nghĩa và bối cảnh không còn nữa, nay lại phục hồi như một di sản văn hoá có đúng không? Nếu muốn thực hành khuyến nông thì có lẽ có nhiều cách làm hay hơn" (Tuần Việt Nam, Vietnamnet.vn ngày 10-3-2010).

*** GS.TS. Ngô Đức Thịnh: "Theo quan điểm của tôi, truyền thống và đương đại luôn song hành. Bản thân tôi ủng hộ đưa nhu cầu, hình thức hoạt động của xã hội đương đại vào truyền thống. Làm gì có truyền thống thuần túy… Với lễ hội Tịch điền tôi cho rằng nên khôi phục lại, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay. Thái Lan đến nay vẫn tổ chức lễ hội này. Nhưng ở lễ hội vừa qua vẫn có những điểm tôi chưa tâm đắc. Ở Thái, họ mặc cho con trâu một chiếc áo thêu, điều đó biến con trâu bình thường thành con trâu thần, trâu tiên. Tôi thì không thích cách người ta vẽ lên mình trâu như ở ta. Mình phải “thiêng hóa” các con vật là biểu tượng của lễ hội. Lễ hội Tịch điền năm nay theo tôi đã khắc phục được điểm chưa được của năm ngoái. Nghi lễ xưa, nhà vua xuống cày ruộng. Năm nay, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đích thân xuống ruộng cày. Theo tôi, đó là “chính danh”... Vừa qua, Thừa Thiên Huế có nhờ tôi giúp trong việc làm hồ sơ cho lễ tế Nam Giao đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới. Quan điểm của tôi là không được, vì lễ tế này chưa “chính danh”. Theo truyền thống, nghi lễ này phải do vua đứng ra, nhưng hiện nay, đó chỉ là hoạt động sân khấu hóa, phục vụ khách du lịch mà thôi. Đã là nghi lễ phải khác bình thường!". (Báo Thể thao & Văn hóa số ra ngày 3-3-2010)

* Nghị định 75/CP/2010 của Chính phủ, Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa chính thức có hiệu lực từ ngày 1-9-2010 vẫn xác định: thực hiện xử phạt hành chính từ 1 - 3 triệu đồng đối với các hành vi tổ chức hoạt động lên đồng, xem bói, gọi hồn, xin xăm… có tính chất mê tín dị đoan.

* Trong việc sử dụng các thuật ngữ về lễ hội, rõ ràng không có sự nhất quán. Tôi nghĩ cần phân biệt rành mạch ba loại: thứ nhất là lễ hội truyền thống; thứ hai là những cuộc mít tinh (lễ kỷ niệm) có trình diễn văn nghệ và thứ ba là các liên hoan văn hóa nghệ thuật và du lịch mà một số người hay gọi một cách dễ dãi, pha chút tâm lý sính ngoại: festival. Vấn đề không chỉ đặt ra là sự phân biệt khái niệm, mà do hiểu lẫn lộn, một số người hay khái quát rằng: hiện nay nước ta tổ chức lễ hội tràn lan, tốn kém sức của, sức người. Lễ hội truyền thống ở các làng xã, chắc không tốn kém ngân sách nhà nước, tốn kém cho ngân sách nhà nước mà hiệu quả thì chưa thể nói là cao, chính là các festival, nhưng lại chưa là vấn đề đặt ra từ bài viết này.


Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2012
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận