MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA, ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hiện nay vấn đề xây dựng và bảo vệ môi trường sống của con người đang là mối quan tâm đặc biệt trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia. Cùng với môi trường sinh thái và môi trường xã hội, môi trường văn hóa cũng giữ một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bền vững. Nếu như môi trường sinh thái có vai trò thiết yếu đảm bảo sự tồn tại sinh học của con người, thì môi trường văn hóa có vai trò to lớn giúp con người “nhập thân văn hóa”, trở thành những con người xã hội. Môi trường văn hóa, đời sống văn hóa lành mạnh, hài hòa, phong phú chính là chiếc nôi nuôi dưỡng con người trở thành những “tạo vật có văn hóa”. Hiện nay, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa là một trong những tiêu chí chính để đánh giá sự công bằng và tiến bộ xã hội, sự phát triển bền vững của các quốc gia.
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa hiện đang được quan tâm đặc biệt, nhất là sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” được ban hành, trong đó nhiệm vụ “xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh” là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết (1).
Trong bối cảnh đất nước ta đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động phức tạp với những tác động khó lường đến con người và văn hóa Việt Nam. Việc xây dựng một đời sống văn hóa phong phú, đa dạng; tạo lập một môi trường văn hóa lành mạnh, hài hòa là một yêu cầu cấp thiết trước thực trạng tư tưởng, đạo đức, lối sống đang có những biểu hiện đáng lo ngại như hiện nay.
Đời sống văn hóa: khái niệm và cấu trúc
1.1. Khái niệm “đời sống văn hóa”
Có lẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề cập đến khái niệm đời sống văn hóa ở nước ta dưới chế độ mới. Ngay từ những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám Người đã quan tâm đến việc xây dựng “đời sống mới” mà nội hàm có thể hiểu tương đương với khái niệm “đời sống văn hóa” hiện nay. Khái niệm “đời sống mới” của Người bao gồm “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới”, ba nội dung đó quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu và gắn liền với lối sống và nếp sống (2).
Sau đó khái niệm “đời sống văn hóa” bắt đầu xuất hiện nhiều trong phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, bài viết trên báo chí, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, cũng có nhiều cách hiểu rộng, hẹp khác nhau về khái niệm này, tùy theo cách tiếp cận và góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu.
GS.TS. Hoàng Vinh cho rằng: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó)” (3). Khái niệm đời sống văn hóa ở đây được xây dựng từ góc độ cấu trúc, bao gồm các yếu tố tĩnh và động, vật thể và phi vật thể, chủ thể và sản phẩm văn hóa. Về mặt phạm vi, thì đời sống văn hóa chỉ là một bộ phận của đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, cũng có cách hiểu về đời sống văn hóa khá rộng, bao trùm tất cả các hoạt động sống của con người, phục vụ cho nhu cầu văn hóa tinh thần: “Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm làm thỏa mãn nhu cầu văn hóa, hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ” (4). Ở đây, khái niệm “đời sống văn hóa” được xây dựng trên tiêu chí đáp ứng nhu cầu, nhưng chỉ giới hạn ở các nhu cầu văn hóa, về phạm vi thì bao gồm tất cả các hoạt động sống của con người.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Thức đề xuất một khái niệm khác: “Đời sống văn hóa là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để đáp ứng nhu cầu và hướng con người vươn lên theo quy luật của cái đẹp, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mỹ, đào thải những biểu hiện tiêu cực, tha hóa con người” (5). Về bản chất, khái niệm này là sự làm rõ hơn khái niệm đã nêu ở trên. Đời sống văn hóa được coi là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội tốt đẹp nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên và xã hội, đáp ứng nhu cầu sinh tồn, đổi mới, nâng cao chất lượng sống của con người.
Cũng có cách hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa hẹp hơn, chỉ khuôn lại ở các hoạt động văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo và phát triển của con người: “Đời sống văn hóa là tất cả nội dung và cách thức, hình thức hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Đó cũng là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa vì sự phát triển của con người và cộng đồng" (6). Ở đây, đời sống văn hóa được hiểu là quá trình diễn ra các hoạt động văn hóa, sinh hoạt văn hóa, trao đổi văn hóa nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng sống của cá nhân và cộng đồng.
Tựu trung, tuy có thể có nhiều cách định nghĩa về “đời sống văn hóa” khác nhau, nhưng về bản chất chúng đều thống nhất ở chỗ coi đó là quá trình diễn ra các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của họ. Đời sống văn hóa có ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng.
1.2. Cấu trúc của đời sống văn hóa
Do có nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm khái niệm “đời sống văn hóa”, nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc của nó, về các thành tố cấu thành.
- Trong một thời gian dài dưới thời bao cấp, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng “đời sống mới” trong những lĩnh vực cốt lõi là: ăn, mặc, ở, đi lại và làm việc, đời sống văn hóa thời kỳ này được hiểu theo nghĩa hẹp là xây dựng nếp sống văn hóa, các thuần phong mỹ tục liên quan đến ma chay, cưới xin, các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ… Những thành tố then chốt được chú trọng là: tư tưởng, đạo đức, nếp sống, lối sống, văn nghệ quần chúng…
- Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi Nhà nước chủ trương xây dựng “pháo đài cấp huyện” thì đời sống văn hóa được chỉ đạo tập trung vào 6 mặt công tác như sau:
+ Xây dựng nếp sống
+ Xây dựng nhà văn hóa
+ Xây dựng thư viện, phòng đọc sách, báo
+ Hoạt động thông tin, cổ động.
+ Hoạt động bảo tàng, giáo dục truyền thống
+ Hoạt động văn nghệ quần chúng (7).
Các mặt công tác này chủ yếu diễn ra ở các địa bàn cơ sở là các khu dân cư cấp xã, phường, thị trấn; các cộng đồng làng, bản, ấp, phum, sóc; các đơn vị hành chính, sự nghiệp, sản xuất, an ninh, quốc phòng (nhà máy, công trường, cơ quan, trường học, bệnh viện, lực lượng vũ trang, công an nhân dân…). Có thể thấy các thành tố chính được quan tâm ở đây là: nếp sống, thiết chế văn hóa, các hoạt động văn hóa…
- Từ năm 2000, khi phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được phát động, thì nội dung xây dựng đời sống văn hóa bao gồm 5 lĩnh vực:
+ Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo
+ Xây dựng tư tưởng, chính trị lành mạnh
+ Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật
+ Xây dựng môi trường văn hóa sạch - đẹp - an toàn
+ Xây dựng các thiết chế văn hóa thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thể thao cơ sở (8).
Ở đây, chúng ta thấy đã có sự mở rộng về cấu trúc của đời sống văn hóa. Các thành tố được nới rộng về phạm vi và mang tính tổng thể, toàn diện hơn: không chỉ có lĩnh vực văn hóa, mà có cả kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật, môi trường sinh thái; bên cạnh thiết chế văn hóa có lồng ghép thiết chế thể thao nhằm nâng cao thể lực con người, có nếp sống văn hóa, hoạt động văn hóa… Như vậy, cấu trúc của đời sống văn hóa đã được mở biên khá rộng, mang tính tổng thể.
- Đến những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả Phan Trung Tá cho rằng xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn bao gồm 3 thành tố chính:
+ Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội
+ Môi trường văn hóa
+ Chủ thể văn hóa: năng lực tiếp nhận, thực hành và sáng tạo văn hóa của cá nhân hay của cộng đồng (9).
Với cách hiểu này, đời sống văn hóa đã mang một nội dung rất rộng, bao trùm và kết nối những môi trường quan trọng nhất của đời sống con người: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và chủ thể văn hóa…
- Ngoài ra, từ phương diện quản lý nhà nước cũng tồn tại một cách hiểu khá hẹp về những nội dung của “đời sống văn hóa” theo nghĩa là đời sống văn hóa cơ sở, giới hạn ở các lĩnh vực Chính phủ phân công cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý, với các mặt hoạt động: Thông tin cổ động; Câu lạc bộ; Thư viện, đọc sách báo; Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giáo dục truyền thống; Văn nghệ quần chúng; Xây dựng nếp sống mới gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”…
Như vậy, cấu trúc của đời sống văn hóa có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ và nhiều chiều kích khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu hoặc quản lý…
Tuy nhiên, từ cái nhìn tổng thể, toàn cảnh, rất cần hiểu cấu trúc của “đời sống văn hóa” theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm những công việc của Bộ Văn hóa Thông tin trước đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay, mà là công việc của toàn xã hội với sự tham gia của các thiết chế khác nhau: gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị, cộng đồng…
Đặc biệt, không nên chỉ giới hạn đời sống văn hóa ở các thành tố của văn hóa quần chúng, văn nghệ dân gian, văn hóa đại chúng. Cần chú trọng và phát huy vai trò làm giàu đời sống văn hóa của cả các yếu tố văn hóa tinh hoa, văn hóa bác học, văn hóa đỉnh cao trong đời sống tinh thần của xã hội.
Để con người có được một đời sống văn hóa phong phú, đầy đủ, rất cần tới sự tham gia và tương tác giữa hai bộ phận: 1) Hoạt động sáng tạo văn hóa và sinh hoạt văn hóa tinh thần của quần chúng, nhân dân lao động. 2) Những hoạt động của các tổ chức chuyên nghiệp, nhằm truyền bá các giá trị văn hóa cao cho quần chúng, bồi bổ năng lực thẩm mỹ, nâng cao thị hiếu cho họ. Hoạt động của hai khu vực này sẽ có tác động tương hỗ lẫn nhau, làm cho đời sống văn hóa của con người thực sự phong phú, đầy đủ, toàn diện. Nghĩa là đời sống văn hóa không chỉ giới hạn ở các công tác và hoạt động văn hóa và càng không phải chỉ có hoạt động văn hóa quần chúng. Nó sẽ liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như: giáo dục, nghệ thuật, khoa học, tư tưởng, đạo đức, lối sống, vui chơi giải trí…
2. Môi trường văn hóa: khái niệm, cấu trúc
2.1. Khái niệm “môi trường văn hóa”
Môi trường văn hóa cũng là một khái niệm phức tạp, thu hút được mối quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý, từ đó có nhiều quan niệm khác nhau xuất phát từ những góc nhìn, mục đích nghiên cứu và quản lý khác nhau.
Từ những năm 70 của thế kỷ trước, giáo sư nhân chủng học người Pháp Georges Olivier đã đề cập đến khái niệm “môi trường văn hóa” theo nghĩa rất rộng, trong sự đối sánh với “môi trường tự nhiên”. Môi trường văn hóa được ông đồng nhất với môi trường nhân văn, môi trường xã hội, được tạo nên bởi sự “tác động của con người tới con người” và “tổ chức xã hội của chúng ta” (10).
Ở Liên Xô trước đây, tập thể tác giả biên soạn giáo trình Cơ sở lý luận văn hóa Mác- Lênin cho rằng giữa văn hóa của xã hội và văn hóa của mỗi cá nhân có một khâu trung gian, đó là môi trường văn hóa và đưa ra khái niệm: “Môi trường văn hóa là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hóa không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hóa” (11).
Còn theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì môi trường văn hóa là điều kiện để hình thành nhân cách con người văn hóa và lối sống văn hóa. Trong Diễn văn khai mạc Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất ngày 21-11-1946, Người đã nêu rõ để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, nhiệm vụ đầu tiên và rất quan trọng là phải thường xuyên quan tâm xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa. Lối sống văn hóa, theo Người, được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày như ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc… Còn môi trường văn hóa là những điều kiện xung quanh để tạo nên lối sống văn hóa đó. Trong môi trường văn hóa có môi trường văn hóa xã hội, môi trường văn hóa cộng đồng, môi trường văn hóa gia đình (12).
Theo quan điểm của nhóm tác giả biên soạn công trình “Quản lý hoạt động văn hóa” thì “Môi trường văn hóa là một tổng thể các sản phẩm văn hóa, chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương tiện và cảnh quan văn hóa,... mà cá nhân tiếp xúc trong suốt đời mình và có ảnh hưởng qua lại với mình” (13). Ở đây, dường như khái niệm “môi trường văn hóa” có phần trùng với khái niệm “đời sống văn hóa” như đã phân tích ở trên, đặc biệt là với khái niệm của GS.TS. Hoàng Vinh.
Còn nhóm tác giả đề tài khoa học “Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam” lại đưa ra một khái niệm như sau: “Môi trường văn hóa là tổng hòa những thành tố vật chất và tinh thần tương đối ổn định, trong một thời gian và không gian cụ thể, ở đó các cá nhân tác động đến nhau, con người là yếu tố quan trọng nhất của môi trường văn hóa” (14). Ở đây nhấn mạnh môi trường văn hóa phải gắn với một phạm vi không gian và thời gian tác động xung quanh con người. Như vậy, không phải bất cứ giá trị vật chất, tinh thần nào cũng tham gia vào môi trường văn hóa. Chúng chỉ thực sự thuộc về môi trường văn hóa khi chúng nằm trong mối quan hệ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp với con người và cộng đồng người.
Nhìn chung, ở các cách diễn đạt trên, “môi trường văn hóa” đều được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các yếu tố vật chất và tinh thần, tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể tác động qua lại với đời sống của cá nhân và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và thúc đẩy sự tiến triển của xã hội.
Về phần mình, PGS.TS. Mai Hải Oanh lại đề xuất quan điểm cho rằng môi trường văn hóa chỉ chủ yếu bao gồm lĩnh vực văn hóa tinh thần. Theo tác giả, “môi trường văn hóa là tổng hòa các loại điều kiện văn hóa tinh thần tồn tại xung quanh chủ thể và tác động tới hoạt động chủ thể. Yếu tố chủ yếu tạo thành môi trường văn hóa là giáo dục, khoa học, kinh tế, văn nghệ, đạo đức, tôn giáo, triết học, tâm lý dân tộc và tập tục truyền thống (15).
Như vậy, có thể thấy, hiện nay có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về “môi trường văn hóa”, tuy nhiên, tựu trung, có thể quy về 3 luồng quan điểm như sau:
- Luồng quan điểm thứ nhất coi “môi trường văn hóa” gần như đồng nhất với “môi trường xã hội”, thể hiện rõ nhất ở việc lý giải ảnh hưởng của môi trường văn hóa đối với nhân cách và hành vi cá nhân qua các yếu tố: thành phần xuất thân, yếu tố giai cấp, nơi sinh sống, truyền thống gia đình, trình độ giáo dục, đơn vị công tác, yếu tố cộng đồng, xã hội... (16). Quan điểm này được xây dựng dựa trên cách hiểu khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng nhất, coi mọi hoạt động và sáng tạo của con người đều là văn hóa.
- Luồng quan điểm thứ hai coi “môi trường văn hóa” là một bộ phận hợp thành của “môi trường xã hội”. Có thể hiểu môi trường xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao, lịch sử, giáo dục..., và như vậy, môi trường văn hóa chỉ là một thành tố cấu thành môi trường xã hội, tuy là một bộ phận rất quan trọng của nó. Môi trường văn hóa thường bền vững hơn, trong khi môi trường xã hội năng động hơn, biến đổi linh hoạt hơn.
- Luồng quan điểm thứ ba cho rằng môi trường văn hóa chỉ là một thành tố cấu thành nên văn hóa và sự phát triển văn hóa. Theo tác giả Mai Hải Oanh, đây là cách hiểu phù hợp hơn cả, tránh được sự chồng chéo và mở rộng quá mức nội hàm khái niệm, giúp phân biệt rõ cấu trúc và nội dung của môi trường văn hóa, khẳng định môi trường văn hóa có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của sáng tạo văn hóa (17).
Theo quan điểm của người viết bài này, cần có sự dung hòa giữa các quan điểm. Không nên quá mở rộng phạm vi khái niệm “môi trường văn hóa” đến mức lấn sân sang các khái niệm khác, nhưng cũng không nên co hẹp quá, dẫn đến sự giới hạn, hạn chế phạm vi ảnh hưởng và tác động của “môi trường văn hóa” trong các hoạt động quản lý và điều hành đất nước.
2.2. Cấu trúc của môi trường văn hóa
Do có nhiều cách hiểu rộng, hẹp khác nhau về khái niệm “môi trường văn hóa”, nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc của môi trường văn hóa. Tựu trung, có thể nhận diện cấu trúc đó từ một số góc tiếp cận sau:
a. Tiếp cận theo không gian
Cách tiếp cận này dựa trên sự phân chia về quy mô, cấp độ cộng đồng theo trục không gian, qua đó, có thể nhìn nhận cấu trúc của văn hóa theo các cấp độ vi mô và vĩ mô (18).
- Ở cấp độ vi mô, môi trường văn hóa bao gồm những không gian nơi diễn ra quá trình nhập thân văn hóa đầu tiên của con người, nơi con người chuyển biến từ chỗ là một sinh thể trở thành con người xã hội, đó là môi trường văn hóa gia đình, hay các đơn vị cơ bản nơi cá nhân chung sống tác động với nhau hàng ngày, môi trường gần gũi nhất với mỗi cá nhân, như: tổ lao động, tổ học tập... Đây là những “tiểu môi trường” cấu thành nên môi trường văn hóa vĩ mô.
- Ở cấp độ vĩ mô, môi trường văn hóa bao gồm những không gian nơi các giá trị văn hóa, hoạt động văn hóa và giao tiếp của mỗi cá nhân được mở rộng tới những mối quan hệ lớn hơn ngoài các phạm vi trên: môi trường văn hóa quy mô tỉnh/thành, vùng, miền, quốc gia, quốc tế…
b. Tiếp cận theo hệ thống
Theo cách tiếp cận này môi trường văn hóa là một hệ thống tổng thể, bao gồm các thành tố cơ bản sau:
- Tổng thể các loại sản phẩm văn hóa
- Toàn thể những cảnh quan văn hóa
- Toàn thể các thiết chế văn hóa
- Hệ thống những ứng xử văn hóa
- Những tiểu môi trường văn hóa, như: nếp sống văn hóa nơi công cộng, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu, gia đình văn hóa; nếp sống sinh hoạt, học tập, sản xuất, giao tiếp… (19).
Theo góc tiếp cận này, môi trường văn hóa là một chỉnh thể thống nhất, luôn luôn vận động và biến đổi, các thành tố của hệ thống có mối quan hệ biện chứng qua lại với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau.
c. Tiếp cận theo phân tầng văn hóa - xã hội
Cũng có thể nhận diện cấu trúc của môi trường văn hóa từ góc độ tiếp cận phân tầng văn hóa - xã hội, dựa trên sự phân cấp trình độ giáo dục - dân trí, mức độ phổ cập của các thành tố như sau:
- Tầng thứ nhất, hay là tầng cơ sở, là tầng rộng nhất vì môi trường văn hóa hiện diện ở khắp nơi, can dự đến mọi hành vi, cách sống của các thành viên trong xã hội, thể hiện rõ nhất là qua các thành tố: phong tục tập quán, văn hóa truyền thống, văn hóa đại chúng, văn hóa lễ hội, các sinh hoạt tôn giáo, giáo dục trẻ em và giáo dục phổ thông...
- Tầng thứ hai là môi trường văn hóa của tầng lớp có học, có nghề nghiệp nhất định trong xã hội: Đối với doanh nghiệp là môi trường văn hóa doanh nghiệp; đối với sinh viên các trường đại học và cao đẳng là môi trường văn hóa học đường…
- Tầng thứ ba là môi trường văn hóa của tầng lớp trí thức bậc cao, như các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhân tài khoa học - kỹ thuật và nghệ thuật, các nhà văn hóa, giáo sư đại học... Môi trường văn hóa này được tạo dựng từ các thành tố ít phổ biến, ít mang tính “đại chúng” hơn như: tư duy triết học (thế giới quan, nhân sinh quan...) tác động đến sự lựa chọn và con đường phát triển của các cá nhân; quan điểm khoa học, quan điểm văn nghệ, đạo đức... chi phối hành vi và ứng xử văn hóa; trình độ thưởng thức, chia sẻ văn hóa… (20).
Đương nhiên, sự chia tách các tầng văn hóa này chỉ mang tính tương đối, là kỹ thuật thao tác để làm rõ cấu trúc của môi trường văn hóa. Mối quan hệ giữa các tầng văn hóa này rất chặt chẽ, có sự tương tác và kết nối, bởi hầu hết mọi người đều phải trải qua quá trình giáo dục từ thấp đến cao. Một môi trường văn hóa lý tưởng là môi trường có sự điều tiết hài hòa, phát triển tương hỗ ở cả ba khu vực này.
3. Mấy vấn đề đặt ra trong xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa ở Việt Nam hiện nay
- Cần kết hợp hài hòa giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh
Đời sống văn hóa, môi trường văn hóa của mỗi cộng đồng, quốc gia đều được tạo nên bởi sự kết hợp giữa hai yếu tố: bên trong (nội sinh) và bên ngoài (ngoại sinh). Hai yếu tố này luôn có sự tương tác trong quá trình tồn tại và phát triển. Yếu tố nội sinh là bộ phận nền tảng, cực kỳ quan trọng để duy trì nội lực, sức mạnh nội tại của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, những yếu tố ngoại sinh tích cực tiếp thu được trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa sẽ có tác dụng thúc đẩy, làm giàu cho đời sống văn hóa, môi trường văn hóa trong nước. Trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa, việc tiếp thu các yếu tố ngoại sinh diễn ra ngày càng thuận lợi, nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ “xâm lăng” văn hóa, đồng hóa văn hóa. Do vậy, rất cần một sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh với ý thức rằng, yếu tố nội sinh là cái có trước, cái tảng nền; yếu tố ngoại sinh là cái bổ sung, cái làm giàu, trong quá trình hội nhập luôn phải giữ được căn tính, hồn cốt dân tộc, “hòa nhập mà không hòa tan”, không đánh mất mình.
- Phát triển cân đối giữa văn hóa tinh hoa và văn hóa đại chúng
Để có được một đời sống văn hóa phong phú, đa dạng và một môi trường văn hóa lành mạnh, đầy đủ, chúng ta cần coi trọng phát triển cả văn hóa đại chúng lẫn văn hóa tinh hoa. Văn hóa đại chúng góp phần phổ cập văn hóa cho quảng đại quần chúng, nâng cao mặt bằng dân trí, tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ, nhân văn. Tuy nhiên, mỗi xã hội cũng rất cần tới bộ phận văn hóa tinh hoa, văn hóa bác học. Nếu quá chú trọng đến văn hóa đại chúng, sẽ có nguy cơ bình dân hóa các giá trị văn hóa, hạ thấp thị hiếu của xã hội và không tạo nên những đỉnh cao cho văn hóa dân tộc. Văn hóa tinh hoa không phổ thông, không chiếm phần lớn trong xã hội, nhưng chính bộ phận này lại thúc đẩy xã hội tiến lên, tạo nên những bước ngoặt trong sự phát triển của dân tộc. Nếu quá sa đà vào đại chúng hóa, không tạo điều kiện cởi mở và kích thích sáng tạo, không chăm lo đúng mức, cổ vũ nhân tài và văn nghệ sỹ, thì rất dễ dẫn đến sự suy thoái của văn hóa tinh hoa. Và khi văn hóa tinh hoa bị suy thoái, thì dân tộc rất dễ bị tiêu vong về mặt tinh thần.
- Cân bằng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại
Môi trường văn hóa, đời sống văn hóa của mỗi cộng đồng bao giờ cũng gắn liền với những giá trị truyền thống trường tồn của cộng đồng ấy. Tuy nhiên, vì cuộc sống luôn biến đổi, văn hóa luôn vận động, nên truyền thống không phải “nhất thành bất biến” mà cũng có sự thay đổi, biến cải. Một số giá trị cũ sẽ trở nên lạc hậu, bị đào thải; một số giá trị mới được hình thành và ngày càng củng cố. Do vậy, sự đổi mới và chuyển đổi giá trị cho phù hợp với bước tiến của thời đại là một quy luật tất yếu của phát triển. Mọi sự tách rời, đứt gãy hoặc đoạn tuyệt với truyền thống đều là cực đoan, sẽ đưa tới những hậu quả khó lường. Tuy nhiên, nếu quá nệ cổ, quá lụy truyền thống, sẽ rơi vào bảo thủ, chậm tiến, thậm chí trì trệ. Các yếu tố văn hóa truyền thống sẽ tác động, tỏa ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, môi trường văn hóa đương đại, ngược lại đời sống đương đại sẽ có sự chọn lựa, cải biến các yếu tố truyền thống cho phù hợp. Vì thế, rất cần một sự điều tiết đúng đắn, sáng suốt để cân bằng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát huy, giữ gìn và phát triển để có thể xây dựng một đời sống văn hóa và môi trường văn hóa đầy đủ, lành mạnh, tiến bộ, kế thừa quá khứ nhưng phục vụ hiện tại và hướng tới tương lai.
- Điều hòa mối quan hệ dân tộc và quốc tế, tính địa phương và tính nhân nhân loại
Đời sống văn hóa, môi trường văn hóa của mỗi cộng đồng luôn mang đậm tính bản địa, bởi lẽ chúng được gây dựng trên nền tảng của truyền thống văn hóa, di sản văn hóa của mỗi địa phương, vùng, miền, sắc tộc. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, đồng thời điều kiện địa lý-sinh thái đa dạng cũng tạo nên nhiều vùng và tiểu vùng văn hóa đặc sắc. Chính điều đó đã tạo nên tính độc đáo, phong phú của đời sống văn hóa, môi trường văn hóa ở từng địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị riêng, giá trị cục bộ, chúng ta cũng cần hướng đến những giá trị chung, giá trị phổ quát của nhân loại. Làm sao để các giá trị riêng không trở thành những vật cản, những trở ngại trên con đường hội nhập vào dòng chảy chung của văn hóa nhân loại (như một số hiện tượng phản cảm, các “hủ tục” trong lễ hội truyền thống mà báo chí đưa tin gần đây). Việc hấp thụ những yếu tố tích cực, tiến bộ, văn minh của nhân loại để làm phong phú thêm đời sống văn hóa, môi trường văn hóa trong nước cũng hết sức quan trọng.
- Chú trọng tính tổng thể, tính hệ thống trong xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa là công việc phức tạp, lâu dài, khó khăn, không thể tiến hành một sớm một chiều và triển khai một cách biệt lập, riêng rẽ, mà phải đặt trong mối liên hệ hữu cơ, tương tác với các lĩnh vực khác: kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái... Không thể tiến hành các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa một cách duy ý chí, tách rời với những điều kiện, tiền đề vật chất, tâm lý, ý thức của người dân… Nếu không, sẽ rất dễ rơi vào hô hào suông, những cuộc vận động, phong trào mang tính hình thức, bề nổi, không có chiều sâu, không bền vững…
Tóm lại, việc nhận thức và đúc kết các vấn đề lý luận về đời sống văn hóa, môi trường văn hóa là rất quan trọng, rất cần thiết làm nền tảng cho tư duy và hành động của chúng ta. Nhưng điều quan trọng hơn là đưa chúng vào cuộc sống, triển khai thành hành động thực tiễn. Đây mới là bài toán khó và nan giải rất cần đến sự chung tay góp sức của toàn xã hội: sự đáp ứng các nguồn lực tài chính và con người, trình độ tổ chức và quản lý của những người điều hành đất nước, năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, lương tâm và ý thức công dân của mỗi cá nhân và các cộng đồng…/.
T.T.L
(Tạp chí Văn hóa học, số 1 (23) - 2016)
______________________
1. Nghị quyết số 33 Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, ban hành ngày 9-6-2014.
2. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 92.
3. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Viện Văn hóa - Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 268.
4. Tạp chí cộng sản, Về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, www. tapchicongsan.org.vn ngày 4-3-2010.
5. Nguyễn Hữu Thức (2007), Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa, Nxb. Văn hóa Thông tin - Viện Văn hóa, Hà Nội, tr. 34.
6. Hà Văn Tăng (2011), "Tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, số tháng 3.
7. Nguyễn Hữu Thức (2007), sđd, tr. 38.
8. Nguyễn Hữu Thức, Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb. Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội, tr. 28.
9. Phan Trung Tá (2002), "Về khái niệm đời sống văn hóa ở nông thôn", Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4, tr. 102.
10. Georges Olivier (1992), Sinh thái nhân văn, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
11. A.I. Aknondov (chủ biên), (1981), Cơ sở lý luận văn hóa Mác-Lênin, Nxb. Văn hóa, Hà Nội,.
12. Hồ Chí Minh, Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ở Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, ngày 24-11-1946.
13. Tập thể tác giả (1998), Quản lý hoạt động văn hóa, Nxb. Văn hóa Thông tin, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
14. Tổng cục Chính trị (1999), Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ quân đội nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
15. Mai Hải Oanh (2012), "Bàn về môi trường văn hóa", Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 334, tháng 4.
16. Xem thêm Mai Hải Oanh (2012), Tlđd.
17. Mai Hải Oanh (2012), Tlđd.
18. Xem thêm Phương Thảo, Một số suy nghĩ về khái niệm, cấu trúc và đặc trưng của “Môi trường văn hóa”, http://www.vnq.edu.vn/tap-chi/nghien-cuu-trao-doi/1126, đăng ngày 25-3-2013.
19. Phương Thảo, Tlđd.
20. Xem thêm Mai Hải Oanh, Tlđd.
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục