Việc xây dựng hương ước, quy ước trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 16/10/2026 Lượt xem: 120
Mặc định Cỡ chữ

VIỆC XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

GS.TS. Bùi Quang Thanh

Trong khoảng trên dưới hai chục năm trở lại đây, bên cạnh sự tồn tại của hương ước, luật tục ở khá nhiều làng bản, đã và đang xuất hiện việc xây dựng quy ước văn hóa ở hầu khắp các địa phương trên phạm vi cả nước,* đáp ứng yêu cầu của công cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình  văn hóa do Bộ Văn hóa Thông tin và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động từ cuối những năm 90 thế kỷ XX. Cũng từ đây, vấn đề hợp nhất để đi đến xây dựng một quy chuẩn cho hương ước, quy ước của các làng/bản đã được đặt ra, tạo thành một văn bản có giá trị văn hóa và ứng dụng quản lý đời sống văn hóa xã hội nói chung, phù hợp với hệ thống pháp luật cũng như mọi chủ trương đường lối chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, phù hợp với đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc, tộc người, trong điều kiện xã hội đương đại. Về bản chất, đó là quá trình hướng tới việc xây dựng Quy ước văn hóa hay còn gọi là Hương ước mới, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những mặt tích cực, phù hợp của/từ hương ước, luật tục truyền thống, trở thành một loại văn bản hương ước đương đại, một kiểu thiết chế văn hóa không chỉ áp dụng cho các làng/bản ở khu vực nông thôn, mà còn mở rộng tới các địa bàn khu phố, khu dân cư ở các đô thị, thị tứ, đáp ứng được những yêu cầu do sự phát triển xã hội hiện tại đặt ra.

Thực tế cho thấy, từ nhiều chục năm qua, hương ước (cũng như luật tục, phong tục, tập quán,…) của các làng bản đã trở thành đối tượng được quan tâm khảo sát, nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà khoa học, các nhà quản lý văn hóa cùng chính quyền các cấp, được đưa ra bàn thảo trong các hội thảo khoa học, công bố trên các tạp chí khoa học cũng như các công trình nghiên cứu chuyên ngành hoặc nghiên cứu chung về văn hóa dân gian. Nhìn từ giác độ khoa học, hương ước là tên gọi phổ biến nhất cho văn bản quy định các thể chế cụ thể của lệ làng trong làng xã dưới chế độ phong kiến tập quyền và tồn tại sang chế độ mới sau này. Tuy nhiên, với bản chất các quy định được định danh thành văn bản hương ước nói chung, nhưng với nhiều địa phương, hương ước lại được hiểu và gọi theo hàng chục tên gọi khác nhau, mang lại những cách hiểu, cách vận dụng ứng xử với quan hệ xã hội so lệch nhau. Thậm chí, có không ít người còn hiểu khái niệm hương ước như là một thứ sản phẩm văn hóa cổ hủ của chế độ cũ, không còn phù hợp, cần bị/phải loại bỏ. Chính vì thế, để định hướng được nội dung xây dựng cơ bản cho hương ước, quy ước giai đoạn lịch sử đương đại, cần thiết phải nhận diện được bản chất khái niệm hương ước, từ đó khả dĩ tiếp cận được đúng hướng và đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong xã hội.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh dường như là người tiên phong trong việc chuyển tải nhận thức một cách bình dân, dễ hiểu nhất về khái niệm hương ước tới dân chúng cũng như các nhà khoa học và quản lý văn hóa ở Việt Nam. Ngay từ năm 1958, khi tiếp đại diện Ban Thường vụ tỉnh ủy Thái Bình tại Phủ Chủ tịch, trong cuộc trò chuyện, Bác Hồ đã đề cập đến vấn đề quan tâm hương ước như một loại di sản văn hóa tích cực của làng xã và giải thích: “Hương ước là những khoản ước trong làng, người ta quy định với nhau không để trâu bò phá hoại lúa, mạ, không để gà qué ăn rau, màu, không được trộm cắp của nhau… Đó là những phong tục đẹp trong nông thôn nước ta trước đây” (1). Vậy mà, phải đến vài chục năm sau đó, trên một số công trình khoa học, mới xuất hiện những đề cập đến khái niệm hương ước của các chuyên gia, các nhà khoa học. Giáo sư Đinh Gia Khánh, trong công trình nổi tiếng Văn hóa dân gian Việt Nam của mình đã đề cập: “Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết” (2). Giáo sư Phan Đại Doãn, chuyên gia đầu ngành nghiên cứu về lịch sử và văn hóa làng xã Việt Nam đã nhận diện: “Hương ước tức là lệ làng thành văn bản, hay hương ước là công cụ tự điều khiển, tự điều chỉnh của làng xã” (3). Nhìn nhận chi tiết và cụ thể hơn, chuyên gia nghiên cứu làng xã Việt Nam Bùi Xuân Đính cho rằng: “Hương ước (hương khoán, hương biên, hương lộ…) là văn bản ghi lại những tục lệ của làng, bao gồm các quy định về thế ứng xử, về các nghĩa vụ phải gánh vác, những việc được làm hay bị cấm đoán, nhằm buộc từng tổ chức cá nhân vào đời sống cộng đồng” (4).

Chung quy lại, nói đến hương ước, quy ước là nói đến những quy định về thế ứng xử, vừa cụ thể, rõ ràng, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng và điều chỉnh mọi hành vi, lời nói trong quan hệ ứng xử của các thành viên trong cộng đồng với môi trường sinh thái, môi trường xã hội - nhân văn và giữa con người với nhau trong đời sống sinh tồn của một cộng đồng người nhất định.

Thực tế cho thấy, trong những chục năm gần đây, ở các làng quê Việt Nam hiện đã và đang tồn tạo hai dạng văn bản hương ước, được vận dụng/áp dụng để góp phần điều hành hoạt động, điều chỉnh hành vi, lời nói của cá nhân và từng cộng đồng nhất định, chuyển tải trong đó những yếu tố văn hóa có ảnh hưởng tích cực đến đời sống đạo đức, phong tục tập quán và lối sống của cộng đồng, nhưng cũng kèm theo không ít những vấn đề hạn chế, không phù hợp hoặc mang tính tiêu cực, đi ngược với hệ thống pháp luật cũng như cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước trong điều kiện phát triển xã hội hiện tại. Đó là loại văn bản hương ước vốn được xác lập trong quá khứ, do gia đình hoặc dòng họ trong làng gìn giữ, bảo tồn, được đem ra phục hồi và vận dụng vào quá trình điều tiết và điều chỉnh hoạt động của con người đương đại một cách máy móc, bảo thủ, cục bộ. Loại thứ hai là những văn bản hương ước mới được các cá nhân hoặc nhóm người trong làng xã, được các dòng họ tin cậy giao cho nhiệm vụ biên soạn hương ước mới một cách tự phát (có thể kế thừa trên cơ sở hương ước cũ của làng, hoặc được hồi ức lại, bổ sung và chỉnh sửa theo nhu cầu cá nhân và được cộng đồng chấp thuận); hoặc biên soạn quy ước mới, tùy thuộc vào khả năng và trình độ của người biên soạn. Chính vì thế, nội dung và hình thức thể hiện của các loại văn bản hương ước, quy ước này đã tạo ra sự đa dạng mang nhận thức thuần túy chủ quan của cá nhân người biên soạn, sự so lệch nhau giữa văn bản hương ước của làng này với làng khác, từ đó dẫn đến việc điều chỉnh, chế ngự hành vi các thành viên trong cộng đồng không có sự thống nhất, gây ra những mâu thuẫn hoặc những mặt trái trong sinh hoạt nội bộ cộng đồng, cản trở hoặc gây khó khăn cho công tác lãnh đạo, quản lý của chính quyền và quản lý văn hóa ở địa phương. Thực trạng hiện tồn của hương ước mới trong giai đoạn lịch sử đương đại đã được giới nghiên cứu chỉ rõ: “Tên gọi hương ước và đối tượng điều chỉnh còn lẫn lộn, chủ thể ban hành hương ước, quy ước chưa đúng quy định. Các hương ước phần nhiều lẫn lộn với quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Nội dung hương ước mới còn sơ sài, lặp lại pháp luật và chủ trương chính sách của Nhà nước một cách khô khan, thiếu cụ thể, chưa sát thực với điều kiện và đặc điểm của từng làng, câu chữ trong văn bản còn nặng tính hô hào, khẩu hiệu. Có không ít bản hương ước có những điều khoản không đúng với tinh thần của pháp luật, can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, đi ngược lại cả những phong tục truyền thống từ lâu đời, thậm chí quy định cả những hình phạt vốn không thuộc thẩm quyền của cấp cơ sở. Với những hạn chế nêu trên, tính thiết thực, tính khả thi và tính hiệu quả của hương ước mới ở nhiều nơi chưa cao” (5).

Mặt khác, trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam, hạt nhân văn hóa truyền thống của đa số các dân tộc, tộc người là văn hóa làng bản, với hình thức tự quản khép kín. Trên thực tế, làng/bản dưới thời phong kiến là một thực thể tương đối độc lập, đời sống kinh tế - văn hóa chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, các làng không có mối quan hệ ràng buộc, cả về ranh giới lãnh thổ lẫn các mặt phục vụ sự sinh tồn.  Chính vì thế, những giao ước riêng của người dân cùng làng phù hợp với sự tồn tại của cơ cấu tổ chức làng xã với các thiết chế chính trị, kinh tế, văn hóa mang nếp sống riêng, kết tinh thành những kinh nghiệm và bản lĩnh sống làm nên nền tảng văn hóa của làng. Nhờ đó, Nhà nước chỉ đảm bảo chức năng (và khả năng) quản lý tới làng, còn làng trực tiếp quản lý tới từng người dân theo phép tắc, luật lệ của mình. Bước vào thời đại mới, mọi làng bản như một tế bào hành chính của nhà nước, vận động theo sự phát triển chung của xã hội theo cơ chế, chính sách lãnh đạo thống nhất của một chính đảng cầm quyền và một nhà nước độc lập tự chủ, dân chủ, các thành viên sinh ra từ làng bản không còn bị giới hạn trong phạm vi không gian cư trú và sinh kế của làng nữa, mà ngược lại, đã được đổi thay vận mệnh, đổi thay sinh kế hoặc được Nhà nước tạo điều kiện cho phát triển mọi mặt đời sống, từ kinh tế đến giao lưu văn hóa, nghề nghiệp. Con người trong làng bản giờ đây không chỉ tuân theo những giao ước của hoàn cảnh mới đối với phạm vi làng bản mình, mà còn phải tuân theo pháp luật của Nhà nước, gánh vác trách nhiệm xã hội nói chung để sinh tồn và phát triển. Đặc biệt, chúng ta đã và đang bước vào thời kỳ hội nhập trong nước và quốc tế, nhiều làng quê đã và đang bước vào quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa, chuyển cơ cấu tổ chức làng xã sang những nấc thang phát triển mới, có xu hướng đô thị hóa, văn minh hóa. Và như vậy, tự thân các làng bản cũng phải chuyển mình để xây dựng làng bản văn minh/làng bản văn hóa, theo đó, những thiết chế văn hóa bao gồm cả những giá trị và chuẩn mực văn hóa vốn có cũng phải vận động đổi thay.

Từ những vấn đề thực tiễn đã nêu, có thể xác định rằng, việc xây dựng hương ước, quy ước văn hóa mới là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu hướng vận động của thời đại và thực tiễn phát triển của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nói chung, góp phần đắc lực vào việc hạn chế các tệ nạn xã hội, sự xuống cấp về mặt đạo đức, nhân cách trong các mối quan hệ ứng xử của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng. Đồng thời, để có được những văn bản hương ước, quy ước mới phù hợp, cần có sự định hướng cụ thể, từ định hướng chiến lược đến định hướng những nội dung cơ bản sao cho hợp quy luật phát triển, gắn kết với pháp luật cũng như cơ chế chính sách của bộ máy công quyền, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội trong điều kiện đương đại.

Như phần trên đã đề cập, cho đến nay, việc biên soạn hương ước mới, quy ước văn hóa đã và đang được thực hiện phổ biến ở hầu khắp các làng quê trên phạm vi cả nước. Thực trạng đó cũng vì thế mà đã và đang lộ ra không ít bất cập, hạn chế và thậm chí thiếu sót về nhiều mặt, từ nội dung các điều lệ cho đến cách thức tổ chức biên soạn và triển khai ứng dụng vào thực tiễn đời sống cộng đồng. Sự tự phát, thiếu thống nhất và những so lệch giữa cách thức tổ chức biên soạn cùng nội dung các hương ước mới ở các làng bản chủ yếu xuất phát từ sự thiếu một định hướng chung và định hướng về nội dung cơ bản của một bản hương ước, quy ước theo mục đích và những nguyên tắc nhất định.

Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg ngày 08-5-2018 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành đã kịp thời giúp cho các cơ quan chức năng có căn cứ để tổ chức xây dựng lộ trình và cách thức quản lý, triển khai giải quyết nhiệm vụ biên soạn hương ước, quy ước văn hóa làng/bản, từ Trung ương đến các cấp địa phương. Với việc xác định ró khái niệm hương ước, quy ước chính là văn bản quy định các quy tắc ứng xử do cộng đồng cư dân thôn, tổ dân phố tự nguyện thỏa thuận và thiết lập, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của cộng đồng dân cư và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận, Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg đã nêu ra những nguyên tắc trọng yếu và có thể coi đây là cơ sở  pháp lý để đề xuất một số định hướng chung, có tính chiến lược cho việc xây dựng văn bản hương ước, quy ước văn hóa làng bản hiện nay.

Trước hết, định hướng chung đặt ra cho việc xây dựng nội dung văn bản hương ước, quy ước ở các làng/bản/khu phố là: Bảo vệ, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng các giá trị văn hóa mới phù hợp với đặc điểm tình hình của cộng đồng dân cư. Điều này là cần thiết, bởi, trong thực tế nhiều chục năm qua, không ít địa phương đã xuất hiện khá phổ biến những đối tượng không nhận thức được giá trị của di sản văn hóa truyền thống, vận dụng máy móc quan điểm chỉ đạo chống mê tín dị đoan, bài trừ tư tưởng hủ lậu, tiêu cực của xã hội cũ, đi đến ứng xử tiêu cực với di sản truyền thống, làm mất đi nhiều giá trị văn hóa tích cực, dẫn đến sự đứt đoạn văn hóa trong quá trình xây dựng lối sống, nhân cách theo đạo lý truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ, gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực từ phạm vi gia đình, nhà trường đến xã hội. Về vấn đề định hướng chung này, qua hơn nửa thế kỷ dưới chế độ mới, nhiều lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã đề cập, thông qua lời nói, diễn văn, nghị quyết đã ban hành. Trong hệ thống các chỉ đạo, huấn thị này, Hồ Chí Minh vẫn là người tiên phong, đề xướng và chỉ dẫn một cách cụ thể, thiết thực và sáng rõ. Lời nói trong buổi giao tiếp với đại diện lãnh đạo tỉnh Thái Bình tại Phủ Chủ tịch từ năm 1958 có thể được coi là tư tưởng chỉ đạo đầu tiên của lãnh tụ cách mạng đối với việc xây dựng hương ước, quy ước mới những chục năm qua. Nhìn vào thực tiễn, Bác Hồ đã chỉ ra: “Đó là những phong tục đẹp trong nông thôn nước ta trước đây. Từ sau ngày cách mạng các chú xóa bỏ hết cả, thế là không đúng. Cách mạng chỉ xóa đi cái xấu, cái dở, còn cái tốt cái hay cần gìn giữ và phát huy chứ!” (6). Đó là chuyện Bác Hồ nói vào năm 1958. Thế nhưng, hơn 30 năm sau, vẫn có người băn khoăn về việc khôi phục và duy trì hương ước sẽ dễ dẫn đến tình trạng “phép vua thua lệ làng” (7). Phải đến Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát huy “cái hay cái đẹp” trong di sản văn hóa truyền thống là hương ước mới được Tổng bí thư Đỗ Mười chỉ đạo: “Nhà nước cần sớm nghiên cứu đề ra quy chế thích hợp với chức năng, vai trò của xã, thôn, xóm, làng, bản trong tình hình mới trong khuôn khổ pháp luật và dựa vào những quy định này có thể xây dựng hương ước” (8). Và cũng tại Hội nghị này, Ban chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết, trong đó đề ra nhiệm vụ có ý nghĩa như định hướng quan trọng cho việc xây dựng hương ước, quy ước: “Phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp, thuần phong mỹ tục, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, phát huy tình làng nghĩa xóm, khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước về nếp sống văn minh thôn, xã”. Định hướng này lại được đề cập và nhấn mạnh trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: “Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể, làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng hương ước, quy ước tại cơ sở phù hợp với luận pháp nhà nước” (9). Cũng từ đây, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 24 (ngày 19 tháng 6 năm 1998) về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; căn cứ vào đó, và sau đó, các cơ quan chức năng (Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin,…) đã ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng bản thôn, ấp, cụm dân cư. Những định hướng từ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vì thế đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đang đặt ra tại các làng bản trên phạm vi cả nước.

Vấn đề định hướng chung thứ hai cho việc xây dựng hương ước, quy ước là bản hương ước, quy ước phải hướng đến nội dung phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước; phù hợp với đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư. Thực tế đã cho thấy, ở không ít địa phương, nội dung của văn bản hương ước, quy ước được xây dựng vẫn còn những điều lệ trùng với vấn đề đã đặt ra trong chủ trương, đường lối thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng và những chính sách đã đề cập qua các văn bản của Nhà nước, các điều luật đã có trong các văn bản pháp luật về dân sự, an ninh, quốc phòng, đất đai,… Điều cần hướng tới để xây dựng nội dung hương ước, quy ước phải là những điều lệ liên quan đến các lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà pháp luật chưa quy định hoặc chỉ dừng ở việc quy định theo nguyên tắc, từ đó xác lập việc tuân thủ các biểu hiện tích cực từ những phong tục, tập quán tốt đẹp cùng việc nêu ra những biện pháp ngăn chặn, hạn chế hay tiến tới xóa bỏ những khía cạnh lạc hậu, mê tín (trong sinh hoạt thực hành tín ngưỡng, lễ hội và giao tiếp…), nêu ra những điều phù hợp với quá trình tự quản của cộng đồng dân cư, thể hiện rõ sự định hướng chuẩn mực cho các cặp quan hệ trong phạm vi gia đình - dòng họ (con cái với bố mẹ và ngược lại, cháu chắt với ông bà và ngược lại, quan hệ anh em, mẹ chồng - nàng dâu, ứng xử bình đẳng vợ chồng, ứng xử với anh em cùng dòng họ), trong phạm vi nhà trường (quan hệ thày trò, quan hệ bạn bè) và ngoài phạm vi xã hội (quan hệ đồng nghiệp, quan hệ nam nữ,...). Mặt khác, cần chú ý đến đặc điểm của phong tục, tập quán và đặc điểm văn hóa riêng của từng cộng đồng dân cư, đặc biệt là các làng bản có nhiều dân tộc, tộc người cùng cư trú; từ đó xác lập các điều lệ cho phù hợp, tránh việc sử dụng hương ước, quy ước của địa phương khác, làng bản khác vận dụng vào quá trình tự quản của cộng đồng mình một cách rập khuôn, máy móc, vừa dễ dẫn đến thủ tiêu bản sắc văn hóa địa phương vừa có khả năng gây ra mâu thuẫn giữa dân chúng với chính quyền và đội ngũ quản lý văn hóa các cấp.

Vấn đề định hướng chung thứ ba cần đặt ra để xây dựng hương ước, quy ước tại các làng bản là toàn bộ nội dung văn bản sau khi đã dự thảo phải được toàn bộ cộng đồng dân cư thông qua, từ đó thu nhận những góp ý, chỉnh sửa, bổ sung của các thành viên trong cộng đồng, đi đến hoàn thiện nội dung văn bản cuối cùng, được đa số dân cư tự nguyện thỏa thuận, đồng thuận tuân thủ thực hiện, đáp ứng nhu cầu tự quản của cộng đồng dưới sự hỗ trợ, giám sát của chính quyền và đội ngũ quản lý văn hóa sở tại.

Như vậy là, nhiệm vụ xây dựng hương ước, quy ước văn hóa (gọi chung là hương ước mới) được đặt ra như một việc làm cần thiết và tất yếu phục vụ sự nghiệp phát triển xã hội nói chung và xây dựng đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội ở các địa phương nói riêng, trong điều kiện cả nước đã và đang trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa cùng với quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay. Căn cứ vào thực trạng xã hội đã và đang đặt ra, với sự xuống cấp đạo đức - nhân cách đáng báo động của nhiều thành phần, lứa tuổi dân cư, việc xây dựng hương ước mới ở các làng bản đặt ra để đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong quá trình định hướng và điều chỉnh văn hóa ứng xử từ cộng đồng làng bản cụ thể (với mối quan hệ quen thuộc: gia đình - dòng họ - làng bản) trong quan hệ chung với cộng đồng dân tộc và cộng đồng quốc gia đa dân tộc trong điều kiện xã hội đương đại./.

B.Q.T

(Tạp chí Văn hóa học, số 2 (48) - 2020

1. Dẫn theo Nguyễn Thanh, “Bác Hồ với việc bảo tồn các giá trị văn hóa”, Báo Thái Bình điện tử, ngày 1- 9-2013.

2. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 62.

3. Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 20-21.

4. Bùi Xuân Đính (2003), “Cha ông ta bảo vệ di sản văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2, tr.67 - 71.

5. Bùi Xuân Đức, “Hương ước mới - Những vấn đề về điều chỉnh pháp luật”, Tạp chí Khoa học pháp luật, số 4 - 2003. Tham khảo thêm: Nguyễn Huy Tính, Hương ước mới - một phương tiện góp phần quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2003.

6. Dẫn theo Nguyễn Thanh, Báo Thái Bình điện tử, ngày 1 - 9 - 2013.

7. Dẫn theo Nguyễn Thanh (2013), tlđd.

8. Tổng bí thư Đỗ Mười: Tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn; Bài phát biểu tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993).

9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành trung ương khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993.




Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2020
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận