1. Học thuyết của J. Nye và các cuộc tranh luận về sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa
Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, trong bối cảnh nước Mỹ đang đứng trước sức ép dư luận quốc tế về sự giảm sút sức mạnh sau Chiến tranh Lạnh, cũng như nguy cơ đi vào tình trạng thoái trào, Joseph Nye - Giáo sư thuộc trường Đại học Harvard - Mỹ đã nêu lên khái niệm “sức mạnh mềm” (soft power). Tuy không phải là học giả đầu tiên đề xuất khái niệm này, nhưng J. Nye lại là người đi tiên phong trong việc phân tích, hệ thống hóa và nâng các nghiên cứu về sức mạnh mềm lên thành hệ thống lý luận quan hệ quốc tế. Với những đóng góp đó, J. Nye thường được coi là cha đẻ của học thuyết sức mạnh mềm. Trong nhiều năm, ông đã xây dựng khái niệm, hoàn thiện nội hàm khái niệm và chỉ ra nguồn lực của sức mạnh mềm, từ đó từng bước chỉ ra các cấu trúc sức mạnh mềm trong hệ thống sức mạnh tổng hợp quốc gia cùng các nguyên tắc ứng dụng nó. Về cơ bản, học thuyết sức mạnh mềm của J.Nye được hệ thống như sau:
Khái niệm “sức mạnh mềm” (soft power) lần đầu tiên được J. Nye (1990) đề cập đến trong cuốn sách Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chất sức mạnh đang thay đổi của Mỹ (Bound to Lead: The Changing Nature of American Power). Theo J. Nye, khác với “sức mạnh cứng” (hard power) mang tính áp đặt, cưỡng chế, đe dọa bằng vũ lực, “sức mạnh mềm” (soft power) chính là sức hấp dẫn, thuyết phục, khả năng ảnh hưởng, lôi kéo của một quốc gia đối với các quốc gia khác bằng các giá trị hệ tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển, hệ thống thể chế, chính sách đối nội, đối ngoại… Như vậy, khái niệm sức mạnh mềm được hiểu là sức hấp dẫn, thu phục, khả năng ảnh hưởng, lôi cuốn của một quốc gia đối với các quốc gia khác thông qua sức lan tỏa của văn hóa, hình thái ý thức và chế độ, từ đó thực hiện mục tiêu chiến lược của quốc gia bằng các phương thức mang tính phi cưỡng chế trong quan hệ quốc tế.
Nguồn của sức mạnh mềm. Theo lý thuyết của J. Nye, sức mạnh mềm chủ yếu dựa trên ba nguồn cơ bản. Một là, văn hóa của một quốc gia (có sức hấp dẫn đối với các quốc gia khác). Trong bối cảnh nhất định, văn hóa có thể được coi như một nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm. Hai là, tư tưởng chính trị và chính sách đối nội. Theo J. Nye, dân chủ và nhân quyền chính là những nguồn lực có hiệu quả tạo ra sức hút của Mỹ đối với thế giới, các chính sách phát triển kinh tế, an sinh xã hội thực hiện trong nước đạt hiệu quả cao cũng tạo ra hiệu ứng lan tỏa ra thế giới bên ngoài, tạo nên sức hấp dẫn của quốc gia đó. Ba là, chính sách ngoại giao (khi chính sách đó được coi là uy tín và có đạo đức), sức hấp dẫn của một quốc gia phụ thuộc vào việc triển khai các chính sách ngoại giao cũng như những giá trị mà các chính sách ngoại giao muốn truyền tải. Mọi quốc gia đều tìm kiếm lợi ích quốc gia thông qua các chính sách ngoại giao, nhưng định nghĩa lợi ích quốc gia như thế nào và dùng biện pháp nào để đạt được lợi ích quốc gia lại khác nhau giữa các nước. Những chính sách được xây dựng trên cơ sở xác định lợi ích quốc gia một cách rộng rãi và có tầm nhìn rộng dễ tạo ra sức hấp dẫn đối với các quốc gia khác.
Sức mạnh mềm văn hóa
Về khái niệm sức mạnh mềm văn hóa (cultural soft power). J.Nye cho rằng, sức mạnh mềm văn hóa là một loại sức mạnh mềm, có sức hấp dẫn, thu phục, khả năng ảnh hưởng, lôi cuốn của một quốc gia đối với các quốc gia khác bằng các giá trị văn hóa, tinh thần, hệ tư tưởng được thực hiện thông qua các phương thức mang tính phi cưỡng chế… nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế. Như vậy, đặt trong hệ thống lí luận sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa được hiểu là một loại quyền lực hoặc một thực lực quy định hành vi của chủ thể truyền bá tới đối tượng tiếp nhận, thông qua phương thức truyền bá không mang tính cưỡng chế như sức mạnh cứng.
Về nội hàm sức mạnh mềm văn hóa. Từ việc xem xét nội hàm của sức mạnh mềm, J.Nye cho rằng, văn hóa là một loại sức mạnh mềm, có tính lan toả, tính thừa nhận và không có tính độc quyền. Vì vậy, xét về việc phân bố văn hóa trên phạm vi toàn cầu, sức mạnh văn hoá không phải là bản quyền sáng chế phát minh của một quốc gia riêng lẻ và không bị lũng đoạn. Dù mỗi một quốc gia (mạnh hay yếu) đều ít nhiều có sức hấp dẫn văn hóa như di sản văn hoá, chế độ chính trị xã hội ưu việt và sức quyến rũ từ nhân cách của nhà lãnh đạo chính trị v.v… nên nó không phải là độc quyền của một nền văn hóa nào. Sức mạnh mềm văn hóa của một quốc gia có tính lan tỏa khi nó được truyền bá ra bên ngoài. Một quốc gia có khả năng mở rộng và thẩm thấu văn hóa ra bên ngoài, có nghĩa là sức mạnh tiềm ẩn của quốc gia đó về văn hóa càng lớn. Trong quá trình truyền bá, chủ thể văn hóa bao giờ cũng bộc lộ ra xu thế nào đó thông qua con đường truyền bá. Nếu văn hóa của quốc gia truyền bá có khả năng lan tỏa, thấm sâu và trở thành giá trị cơ bản, văn hóa chính thống của quốc gia tiếp nhận, điều đó chứng tỏ quốc gia chủ thể đã thể hiện được quyền lực về sức mạnh văn hóa tại quốc gia tiếp nhận. Ở một mức độ lan tỏa mạnh hơn, nếu sức mạnh mềm văn hóa của quốc gia chủ thể có tính phổ quát và trở thành giá trị chung được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu, quốc gia đó sẽ trở thành cường quốc sức mạnh mềm văn hóa có khả năng xây dựng các hệ giá trị chung có chi phối các quy chuẩn trong hành vi quốc tế.
Nguyên tắc sử dụng sức mạnh mềm văn hóa
Đặt sức mạnh mềm văn hóa vào cấu trúc sức mạnh mềm trong mối quan hệ với sức mạnh cứng, sức mạnh tổng hợp quốc gia, các công trình, trong đó tiêu biểu là Sức mạnh mềm: Công cụ tiến tới thành công trong chính trị quốc tế (Soft Power: The Means to Success in World Politics) của J.Nye (2004), Một cách nhìn cứng về sức mạnh mềm (A Hard Look at Soft Power) của Todd H. Hall (2009),... chỉ ra việc sử dụng nguồn lực này thường tuân theo một số nguyên tắc đặc thù sau:
1) Sức mạnh mềm văn hóa thường xuyên đi trước sức mạnh cứng;
2) Việc sử dụng sức mạnh mềm văn hóa, có thể được các quốc gia tiến hành kèm theo các khoản ưu đãi kinh tế như viện trợ, thuận lợi hoá thương mại và thuế quan dành cho các nước đối tác;
3) Sức mạnh mềm văn hóa thường được các cường quốc vận dụng trước hết đối với các nước láng giềng;
4) Sức lan tỏa của sức mạnh mềm văn hóa thường gắn với Internet, công nghệ truyền hình, kỹ thuật số.
Phương thức gia tăng sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ quốc tế
Theo J. Nye (2008) trong Ngoại giao công chúng và Sức mạnh mềm (Public Diplomacy and Soft Power), bí quyết tạo nên sức hấp dẫn của sức mạnh mềm văn hóa Mỹ nằm ở chỗ các kênh ngoại giao văn hóa, truyền thông và các sản phẩm công nghiệp văn hóa luôn “thôi thúc mơ ước và sở nguyện của người khác thông qua những hình ảnh mang tính toàn cầu”.
Cuộc tranh luận về học thuyết của Nye
Học thuyết “sức mạnh mềm” của J. Nye đã được nhiều quốc gia vận dụng trong quan hệ quốc tế. Nhưng cho đến nay, hệ thống lý luận này vẫn chưa được giới học giả quốc tế công nhận một cách phổ biến. Do đây là một học thuyết mới chưa được kiểm chứng rõ ràng, nên việc tổng kết các đánh giá quốc tế về học thuyết sức mạnh mềm của J.Nye sẽ cho thấy rõ hơn tính kế thừa cũng như sự khác biệt trong quan điểm của nhóm nghiên cứu đối với các phương diện có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp tới chủ đề nghiên cứu. Cụ thể, các học giả quốc tế cho rằng:
- Từ góc độ văn hóa, nhiều quan điểm cho rằng, J. Nye xem nhẹ các nhân tố văn hóa, tư tưởng chính trị và quá trình phát triển xã hội của đối tượng tiếp nhận. Vì thế, nó chưa làm sáng tỏ được vấn đề sức mạnh mềm phát huy vai trò ở nước tiếp nhận ở mức độ nào (Niall Ferguson, 2003).
- Trên bình diện tư tưởng chính trị, các nhà phê bình chỉ trích, lí luận sức mạnh mềm của J. Nye dường như không đề cập đến sự thay đổi về xã hội hay tâm lý ở quốc gia tiếp nhận, do các nước này hấp thụ sức hấp dẫn văn hóa, tư tưởng giá trị của quốc gia khác gây ra. Họ cho rằng, lịch sử đã chứng tỏ, rất nhiều đối tượng trong quá trình hấp thụ giá trị và mô hình phát triển của nước khác đã gây ra tác dụng tiêu cực (Todd H. Hall, 2009).
- Trên bình diện ngoại giao, các học giả phương Tây nêu rõ, J. Nye đã nhận thức được thông qua sử dụng sức mạnh mềm có thể hợp pháp hóa chính sách ngoại giao của một quốc gia, đồng thời nhận được sự ủng hộ của quốc gia khác. Tuy nhiên, họ lại chỉ trích Nye không giải thích rõ động cơ thực sự của các quốc gia tiếp thu ủng hộ chính sách ngoại giao này là vì sức hấp dẫn của nó, hay là do họ theo đuổi lợi ích quốc gia. Ngoài ra, các học giả thậm chí còn cho rằng, học thuyết của J.Nye thể hiện tư tưởng bá quyền và không mang tính phổ quát. Những người theo học thuyết chủ nghĩa hậu hiện đại còn nhấn mạnh, sự phân chia quyền lực của Nye xuất phát từ ý đồ duy trì bá quyền của Mỹ.
Những tranh luận trên đã cho thấy, tuy sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa đã trở thành một khái niệm được quan tâm, sử dụng trong giới nghiên cứu và giới chính trị quốc tế, nhưng nó vẫn là một học thuyết gây nhiều tranh cãi.
2. Sức mạnh mềm văn hóa trong tương tác sức mạnh - cách tiếp cận mới từ nhóm nghiên cứu Việt Nam
Việc xem xét lại toàn bộ học thuyết của J.Nye, cũng như các ý kiến đánh giá trái chiều về khả năng ứng dụng của nó trong quan hệ quốc tế đã cho thấy, hệ thống lý luận về sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa của J. Nye đã mở ra một chân trời mới trong việc thấu hiểu một số khía cạnh tiềm ẩn của sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ quốc tế. Ví dụ như những phương pháp không mang tính bạo lực và cưỡng chế ảnh hưởng đến chủ thể khác, song bản thân thuật ngữ sức mạnh mềm văn hóa đã không được dựa trên một khung lý thuyết phát triển tốt. Khái niệm này đã được sử dụng chủ yếu như một công cụ để mô tả sự ưu trội của sức mạnh của Mỹ (1), hay để liệt kê các nguồn lực mềm văn hóa của một quốc gia mà không xác lập được cơ chế chuyển hóa sức mạnh (2).
Mặt khác, các quan điểm lý luận về sức mạnh mềm văn hóa được thể hiện trong học thuyết của J.Nye là chưa đầy đủ, nếu không nói là khá phiến diện vì chỉ phản ánh được quan điểm của những chủ thể có khả năng xuất khẩu, truyền bá các giá trị, tư tưởng của mình vào một quốc gia khác mà chưa xem xét sức mạnh này từ góc nhìn của các quốc gia là đối tượng tiếp nhận sức mạnh mềm văn hóa. Nói cách khác, điểm bất cập, hạn chế của lý luận sức mạnh mềm văn hóa của J.Nye chưa nhìn nhận sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ với sức mạnh văn hóa, trong tương tác sức mạnh, tương tác văn hóa và quá trình hội nhập quốc tế dưới sức tác động của toàn cầu hóa. Hạn chế này đã khiến cho việc đo lường, hay đánh giá được thực lực, hoặc tìm ra các giải pháp phát huy sức mạnh mềm văn hóa trong thực tiễn rất khó khăn. Nhận thức được các điểm bất cập về lý luận sức mạnh mềm văn hóa dẫn đến những hạn chế khi ứng dụng vào thực tế đã khiến chúng tôi xác định định hướng nghiên cứu cần phải nhìn nhận xét về bản chất, sức hấp dẫn, thu hút, thuyết phục của sức mạnh mềm văn hóa chính là sự giao thoa trong tương tác sức mạnh mềm và sức mạnh văn hóa. Việc sử dụng sức mạnh mềm văn hóa vào thực tế quan hệ quốc tế cần phải: 1/ Nhìn nhận từ góc độ hành vi của chủ thể quyền lực là sức mạnh hấp dẫn, thu hút, thuyết phục về văn hóa đối với đối tượng tiếp nhận quyền lực. 2/ Việc xem xét hiệu quả sức mạnh mềm văn hóa phải được nhìn nhận trong mối tương tác quyền lực, tương tác văn hóa và phải đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế để xem xét đo lường sức mạnh thông qua mức độ tiếp nhận của đối tượng tiếp nhận quyền lực. Quá trình tương tác này cho phép nhận diện sức mạnh mềm văn hóa của một quốc gia với tư cách là chủ thể quyền lực lẫn đối tượng tiếp nhận quyền lực. Xét về phương thức, sức mạnh mềm văn hóa sử dụng tất cả những nguồn lực mềm văn hóa có khả năng đưa sự hấp dẫn, thu hút, thuyết phục của sức mạnh văn hóa đến với đối tượng tiếp nhận sức mạnh. Việc một phương thức tác động được sử dụng có thực hiện được sức hấp dẫn, thu hút, thuyết phục văn hóa của nó hay không còn có thể được đo lường thông qua các chỉ số đánh giá định lượng hoặc cuộc thăm dò ý kiến hoặc các nhóm phỏng vấn tập trung. Nhận thức này là ý tưởng, cách tiếp cận của nhóm nghiên cứu Đặng Xuân Thanh, Đào Thị Minh Hương, Nguyễn Thị Thu Phương, Nguyễn Cao Đức đưa ra trong các công trình nghiên cứu đã công bố, dựa trên sự kế thừa có phản biện các quan điểm của J.Nye và căn cứ vào thực tiễn, yêu cầu phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Về cơ bản, cơ sở lý luận về sức mạnh mềm văn hóa của chúng tôi bao gồm:
Về khái niệm: Sức mạnh mềm văn hóa là sức hấp dẫn, sức thu hút, sức thuyết phục về văn hóa của quốc gia này đối với quốc gia khác trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh mềm văn hóa là sự giao thoa giữa sức mạnh mềm và sức mạnh văn hóa của quốc gia xuất hiện trong quá trình tương tác giữa các quốc gia - dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Về nguồn lực mềm văn hóa: Thể hiện ở bản sắc dân tộc (hành vi, chuẩn mực, giá trị), thể chế (nguồn lực, chính sách, tổ chức), các di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể), danh nhân văn hóa.
Các thành tố của sức mạnh mềm văn hóa: được lựa chọn tùy theo thực tiễn, mục tiêu phát huy sức mạnh mềm văn hóa của từng quốc gia đối với từng đối tượng tiếp nhận.
Các kênh tác động: Sức mạnh mềm văn hóa được truyền bá qua các kênh tác động như ngoại giao, thương mại trong lĩnh vực văn hóa, truyền thông, mạng xã hội... Các kênh này được sử dụng linh hoạt tùy theo mục tiêu hướng tới đối tượng tiếp nhận trong tương tác quyền lực, tương tác văn hóa và hội nhập quốc tế.
Việc đo lường sức mạnh mềm văn hóa: Dựa trên kết quả tương tác về quyền lực thể hiện qua khả năng tác động và mức độ tiếp nhận của chủ thể quốc gia - dân tộc ở các mức độ khác nhau.
Việc xác định được điểm mới trong nghiên cứu đã đem đến cho chúng tôi một sự hình dung rõ hơn về khả năng triển khai nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát huy sức mạnh mềm Việt Nam theo khung lý thuyết về quá trình triển khai sức mạnh mềm văn hóa của quốc gia - dân tộc trong tương tác quyền lực, tương tác văn hóa và hội nhập quốc tế. Khung lý thuyết sức mạnh mềm văn hóa của chúng tôi dựa trên ba bước: 1/ xác định mục tiêu quốc gia chuyển hóa các nguồn lực sức mạnh mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ quốc tế theo các cấp độ tăng dần: hấp dẫn à thu hút à thuyết phục); 2/ Đặt mục tiêu chuyển hóa này vào các chiều tương tác quyền lực; 3/ hình thành cơ chế chuyển hướng từ nguồn lực văn hóa sang sức mạnh thông qua: xác lập mục tiêu chiến lược à lựa chọn thành tố của nguồn lực văn hóa dựa vào thực tiễn à chuyển hóa thành sức mạnh văn hóa thông qua các kênh dẫn chuyền à nhận diện hiệu ứngthành công hoặc không thành công của sức mạnh mềm văn hóa thông qua phản ứng của chủ thể tiếp nhận.

3. Khả năng chuyển hóa nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa - một số gợi mở với Việt Nam
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, văn hóa chỉ trở thành sức mạnh mềm khi các nguồn lực mềm văn hóa được chuyển hóa thông qua các kênh tác động có khả năng lan tỏa, lôi cuốn, thẩm thấu vào quốc gia tiếp nhận. Do vậy, vận dụng chuyển hóa nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa không hề đơn giản đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là các cường quốc văn hóa muốn khẳng định vai trò nước lớn, cũng như các quốc gia đang phát triển thiếu đi sự hậu thuẫn của tiềm lực kinh tế. Đối với nhiều quốc gia, việc chuyển hóa nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa khôn khéo thường là sự lựa chọn kết hợp qua lại giữa các kênh tác động là ngoại giao văn hóa, truyền thông, thương mại văn hóa. Ba kênh lớn này với các kênh nhỏ như: hợp tác, giao lưu văn hóa, giáo dục ngôn ngữ thông qua việc triển khai các hoạt động thường niên, hay sự vận hành của các tổ chức như Hội đồng Anh (Anh), Học viện Goethe (Đức), Học viện Puskin (Nga), Viện Cervantes (Tây Ban Nha), Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản (Nhật Bản), Cộng đồng Pháp ngữ (Pháp), Học viện Khổng Tử (Trung Quốc)…, truyền hình, phim ảnh, các sản phẩm văn hóa gắn với công nghệ và mạng internet, các sản phẩm văn hóa nghệ thuật mang bản sắc, sức hấp dẫn văn hóa đồ thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, thời trang, ẩm thực, du lịch... sẽ truyền bá sức hấp dẫn văn hóa và hướng đối tượng thực hiện theo mục tiêu và lợi ích của chủ thể quyền lực. Những quốc gia thành công khi sử dụng các kênh tác động này là Mỹ, Anh Quốc, Hàn Quốc, Pháp... Trong đó, trường hợp đặc biệt thành công là Mỹ. Trong bảng xếp loại thang bậc quyền lực sức mạnh mềm của nhiều tổ chức, Mỹ luôn là quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng qua nhiều năm. Dù các quốc gia muốn gia tăng sức mạnh mềm văn hóa theo mục tiêu nào thì vẫn có một mẫu số rất đặc biệt liên quan đến nguồn lực mềm văn hóa - nguồn lực có khả năng tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn, thuyết phục đối tượng tiếp nhận. Sự liên kết giữa nguồn lực mềm văn hóa và sức mạnh mềm văn hóa này thực tế khá quan trọng trong việc xây dựng một lý thuyết về sức mạnh mềm văn hóa, bởi vì mối liên kết này đưa chúng ta đến việc phát triển một “cơ chế chuyển hóa từ nguồn tài nguyên mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa”. Cơ chế này sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề liên quan và còn gây tranh cãi trong khái niệm về sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa của Joseph Nye.
Quan niệm về sức mạnh mềm văn hóa của Nye tập trung nhiều hơn vào việc sức mạnh mềm văn hóa được tạo ra một cách tự nhiên hơn là tập trung đến các nguồn lực mềm văn hóa, mặc dù ông có đề cập đến một số nguồn tài nguyên sức mạnh mềm như sức hấp dẫn văn hóa, ý thức hệ và các tổ chức quốc tế (3). Do đó, quan niệm của Nye về sức mạnh mềm có xu hướng cho rằng, miễn là bản chất của sức mạnh là đồng sáng tạo, mang tính hấp dẫn thuyết phục và không bạo lực đàn áp, thì sức mạnh đó trở thành sức mạnh mềm bất kể nguồn lực mềm văn hóa đang được sử dụng là gì. Để giải quyết sự mơ hồ trong khái niệm ban đầu của Nye về sức mạnh mềm văn hóa, chúng tôi xác định lại sức mạnh mềm văn hóa dựa trên các nguồn lực mềm văn hóa được sử dụng để gây ảnh hưởng lên người khác, về bản chất chỉ có thể được coi là sức mạnh mềm văn hóa khi nó tạo nên hợp tác, thẩm thấu, lan tỏa chứ không phải là ràng buộc hay cưỡng chế.
Điều này cho thấy, việc phân biệt sự khác biệt giữa nguồn lực mềm văn hóa và sức mạnh mềm văn hóa là rất quan trọng. Bản sắc văn hóa, thể chế, di sản vật thể, phi vật thể và các danh nhân có sức ảnh hưởng quốc tế là những nguồn lực mềm văn hóa được sử dụng để tạo nên sức mạnh mềm văn hóa. Tuy nhiên, một quốc gia tồn tại hoặc sở hữu nguồn lực mềm văn hóa không có nghĩa là quốc gia đó có khả năng sử dụng sức mạnh mềm văn hóa. Nói cách khác, các nguồn lực mềm văn hóa chỉ khi được chuyển hóa thành một sự ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau đối với đối tượng tiếp nhận, sức mạnh mềm văn hóa mới được tạo ra. Nghĩa là nguồn lực mềm văn hóa không phải là sức mạnh mềm văn hóa nếu nó không được chuyển hóa hiệu quả.
Sự chuyển hóa từ nguồn lực mềm văn hóa sang sức mạnh mềm văn hóa nhìn từ góc độ thể chế sẽ bao gồm ba giai đoạn: 1/ lựa chọn sử dụng các nguồn lực mềm văn hóa phù hợp với mục tiêu phát huy sức mạnh mềm văn hóa; 2/ quá trình nhận thức của đối tượng tiếp nhận; 3/ tạo ra sức mạnh mềm văn hóa. Tất nhiên, điều quan trọng là phải phân định rõ bên sử dụng nguồn lực mềm văn hóa, bên tiếp nhận và các kênh chuyển tải nguồn lực mềm văn hóa. Trên thực tế, điều này liên quan nhiều hơn đến lĩnh vực của các giả thuyết cụ thể và phát triển chiến lược với các mục tiêu cụ thể của mỗi quốc gia, chứ không phải là một lý thuyết chung chung. Trong ba giai đoạn chuyển biến này, vì giai đoạn thứ nhất và thứ ba có thể tự giải thích đơn giản, còn giai đoạn thứ hai liên quan đến quá trình nhận thức thể hiện hiệu quả chuyển hóa từ nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa dường như khó hình dung, do đó, chúng tôi sẽ bước đầu làm rõ hơn như sau:
Khi sử dụng nguồn lực mềm văn hóa chuyển hóa qua các kênh tương tác đến chủ thể tiếp nhận, chủ thể sử dụng nguồn lực mềm văn hóa cần phải hiểu những vấn đề liên quan tới chủ thể tiếp nhận để thay đổi nhận thức, hành vi của đối tượng theo ý tưởng và mục đích của chủ thể tiếp nhận. Do đó, các nguồn lực mềm văn hóa được áp dụng phải tạo ra được 1/ sự hiểu biết, nhận thức, sức hấp dẫn à 2/ sự lôi cuốn, hoặc phản ứng bài trừ, xung đột, tiếp nhận một phần ở chủ thể tiếp nhận trong thời gian ngắn hạn à 3/ Khi những thay đổi ngắn hạn được cố định là "ý thức chung" hoặc "thói quen", “giá trị” thì sức mạnh mềm ngắn hạn sẽ trở thành sức mạnh mềm văn hóa mang tính thuyết phục dài hạn hơn. Thể chế hóa, thiết lập tiêu chuẩn toàn cầu hoặc quốc gia, hoặc tạo ra nhịp điệu xã hội thông qua "sự đồng bộ và đồng điệu hóa", là những ví dụ điển hình của việc tạo ra các hiệu ứng sức mạnh mềm dài hạn dưới dạng thói quen tập quán xã hội (4). Trong quá trình này, những thay đổi ngắn hạn trong quá trình thay đổi nhận thức diễn ra khi chủ thể tiếp nhận cảm thấy bị đe dọa hoặc bị lôi cuốn bởi việc áp dụng nguồn lực mềm văn hóa của chủ thể sử dụng, hay khi chủ thể tiếp nhận bắt đầu tính toán cơ chế tương tác thông qua các kênh dẫn truyền mà chủ thể sử dụng nguồn lực lựa chọn. Nếu các nguồn tài nguyên mềm văn hóa thông qua các kênh tác động có thể tạo ra sự xung đột, “đe dọa”, “nỗi sợ hãi”, thì rất có khả năng các nguồn tài nguyên mềm văn hóa được chuyển hóa thành “sức mạnh cưỡng chế” và tạo ra “sức mạnh kháng cự” trong tương tác sức mạnh; ngược lại, nếu các nguồn lực mềm văn hóa thông qua các kênh tác động tạo ra được sự thoải mái, tôn trọng lẫn nhau, hấp dẫn, thu hút, thuyết phục, hợp tác và môi trường tương tác lành mạnh thì các nguồn lực mềm văn hóa sẽ có xu hướng chuyển hóa thành “sức mạnh văn hóa có tính chất đồng liên kết”. Mặt khác, khi bản thân các nguồn lực mềm văn hóa được chuyển tải qua các kênh tác động được chủ thể tiếp nhận chấp nhận và công nhận, thì đây chính là thời điểm, chủ thể sử dụng nguồn lực buộc phải có các tính toán chiến lược mới để bổ sung, hoàn thiện cơ chế chuyển hóa nguồn lực thành sức mạnh mềm văn hóa theo hướng đẩy mạnh hơn sự tương tác hai chiều giữa chủ thể sử dụng và chủ thể tiếp nhận sức mạnh mềm văn hóa. Ở bước tiếp theo, sự chuyển hóa hiệu quả nhất trong sử dụng nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa chính là tạo ra sức mạnh đồng liên kết lâu dài bằng cách tạo ra “thói quen xã hội” ở chủ thể tiếp nhận. Khi người tiếp nhận đã có xu hướng "cảm nhận và suy nghĩ", và theo sau là hành động dựa trên nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị, thì chủ thể sử dụng nguồn lực sẽ không cần phải bỏ thêm công sức để gây ảnh hưởng lên chủ thể tiếp nhận. Đây chính là một cơ chế có khả năng làm rõ hơn ý tưởng ban đầu của Nye khi ông thảo luận về những thay đổi trong sở thích và mối quan tâm của chủ thể tiếp nhận. Tóm lại, quá trình chuyển thể của sức mềm có thể diễn ra như trong sơ đồ sau:
|
(1) Sử dụng nguồn tài nguyên mềm văn hóa à thông qua các kênh tác động à tạo hiệu ứng kháng cự ở chủ thể tiếp nhận = Sức mạnh cưỡng chế |
|
(2) Áp dụng nguồn tài nguyên mềm à Thông qua các kênh tác động à hấp dẫn, thu hút chủ thể tiếp nhận, hình thành cơ chế hợp tác = Sức mạnh mềm văn hóa ngắn hạn |
|
(3) Áp dụng nguồn tài nguyên mềm (lý thuyết, khung giải thích) à Thông qua các kênh tác động à thuyết phục, hình thành thói quen, hành vi, giá trị của chủ thể tiếp nhận, hình thành tương tác bền vững à Xã hội hóa sức mạnh đồng liên kết trong bên tiếp nhận = Sức mạnh mềm dài hạn dưới dạng “thói quen xã hội”. |
4. Thay cho lời kết: Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam cần một tầm chiến lược và mục tiêu cụ thể
Văn hóa hiện diện ở các cấp độ vô cùng đa dạng, các nền văn hóa khác nhau tương tác theo những cách thức khác nhau, nếu chuyển hóa hiệu quả nguồn lực mềm văn hóa thông qua các kênh tác động sẽ tạo được sự hấp dẫn, thu hút, thuyết phục về văn hóa của một quốc gia đối với quốc gia khác trong quan hệ quốc tế. Chính vì vậy, động lực để chúng tôi nỗ lực phát triển một khung lý thuyết sơ bộ như đã trình bày không chỉ nhằm để hiểu được các sự kết nối logic giữa nguồn lực mềm văn hóa và các mục tiêu chính sách của Việt Nam về sức mạnh mềm văn hóa, mà còn nhằm tìm ra các giải pháp phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trên thực tế trong tầm nhìn dài hạn, hoặc ngắn hạn. Sự hình thành một cơ sở lý luận sơ bộ về sức mạnh mềm văn hóa của chúng tôi có thể tạo ra các cuộc tranh luận mới, hoặc phát triển thêm các lý thuyết về sức mạnh mềm văn hóa cho các mảng vấn đề khác nhau trong quan hệ quốc tế. Đối với chủ thể sử dụng nguồn lực sức mạnh mềm văn hóa ở cấp chính phủ, nguồn lực sức mạnh mềm văn
hóa có sẵn là một phần quan trọng của các công cụ chính sách đối ngoại (foreign policy tools) cần thiết trong môi trường địa chính trị tương lai. Những quốc gia vận dụng và chuyển hóa tốt nhất nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa để tạo thuận lợi cho sự hợp tác tích cực sẽ phản ứng lại tốt hơn với những bất ổn hiện tại và trong địa chính trị, đồng thời hy vọng có thể duy trì và định hình lại trật tự tốt hơn.
Điều này dẫn đến câu hỏi: làm thế nào để vận dụng và chuyển hóa nguồn sức mạnh mềm văn hóa một cách hiệu quả trong bối cảnh Việt Nam. Sơ đồ về việc chuyển hóa từ nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa đã mang đến một gợi mở đối với Việt Nam, là mục tiêu phát huy sức mạnh mềm văn hóa cần phải bắt đầu với sự tính toán rõ ràng về các nguồn lực mềm văn hóa có sẵn, và hiểu biết về chúng ở các cấp độ ưu tiên khác nhau tùy thuộc vào tình hình thực tiễn, từ đó đi đến quyết định lựa chọn nguồn lực nào vào các kênh tác động phù hợp nhằm tạo nên sự chuyển hóa thành sức mạnh mềm văn hóa của Việt Nam trong tầm nhìn ngắn hạn, hoặc dài hạn. Đây là bước đo lường đầu tiên mà hầu hết các chính phủ đều gặp khó khăn và Việt Nam không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, cơ chế chuyển hóa được chúng tôi đề xuất đã cho thấy, chiến lược phát huy sức mạnh mềm văn hóa của Việt Nam trước hết phải bắt đầu từ những “mục tiêu cụ thể” trong việc sử dụng nguồn lực mềm văn hóa. Nghĩa là, để Việt Nam phát huy được sức mạnh mềm văn hóa, trước tiên phải xác định được chúng ta đang sở hữu tài nguyên mềm văn hóa nào có thể chuyển hóa được trong quốc tế.
Một trong những mục tiêu của chính sách ngoại giao văn hóa và văn hóa đối ngoại của Việt Nam là “đẩy mạnh hoạt động ngoại giao văn hóa nhằm làm cho thế giới hiểu biết hơn về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, tăng cường xây dựng lòng tin với các quốc gia trên thế giới, đưa quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững, qua đó nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, tạo điều kiện hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Các hoạt động ngoại giao văn hóa cũng góp phần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêm những giá trị văn hóa truyền thống của đất nước” (5). Mặc dù, mục tiêu trên của chúng ta là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với bối cảnh hiện nay, tuy nhiên trên thực tế mục tiêu trên chưa đạt được hiệu ứng như mong muốn, một phần là do sự chuyển hóa các nguồn lực tài nguyên văn hóa của chúng ta chưa hiệu quả, sự phối hợp và phát huy nguồn lực thể chế giữa các Bộ, ban ngành (đặc biệt là Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chưa hiệu quả. Nhưng có một lý do khác dẫn đến tình trạng trên chính là do chúng ta còn lúng túng trong việc đặt ra các mục tiêu cụ thể và lựa chọn các nguồn lực mềm văn hóa phù hợp để chuyển hóa chúng thành sức mạnh mềm văn hóa trong tầm nhìn ngắn hoặc dài hạn.
Chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có thể chuyển hóa được các nguồn tài nguyên di sản phi vật thể và vật thể dày đặc và hấp dẫn thông qua hoạt động du lịch nhằm thu hút du lịch, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế, xã hội. Để quá trình chuyển hóa này đạt hiệu quả cao nhất, Việt Nam cần hình thành cơ chế liên kết, chuyển hóa nguồn lực thành sức hấp dẫn du lịch thông qua sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là lựa chọn chuyển hóa phù hợp cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vốn bị hạn chế về nguồn tài nguyên cứng, nhưng sẵn có một nguồn lực mềm văn hóa đầy tiềm năng là các di sản phi vật thể, vật thể vô cùng hấp dẫn. Ở một tầm nhìn dài hạn, nếu Việt Nam biết sử dụng các nguồn lực mềm văn hóa để tạo ra sức mạnh mềm văn hóa thông qua các kênh ngoại giao văn hóa, truyền thông, các ngành công nghiệp văn hóa (đặc biệt là du lịch văn hóa, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ), thông qua việc hình thành mạng lưới, không gian sáng tạo và thúc đẩy Hà Nội trở thành một thành phố sáng tạo tiêu biểu trên bản đồ các thành phố sáng tạo trong khu vực, thì đây là một chiến lược hiệu quả về chi phí và có khả năng thúc đẩy kinh tế tri thức, bởi vì nó phải cần một lượng tài chính khổng lồ và sẽ tạo cơ hội phát huy tối đa khả năng sáng tạo của nguồn nhân lực trẻ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tóm lại, việc lựa chọn sử dụng các nguồn lực mềm văn hóa thông qua các kênh tác động để tạo ra sức mạnh mềm văn hóa luôn phụ thuộc nhiều hơn vào tầm nhìn chiến lược của một quốc gia ở cả ngắn hạn và dài hạn. Do đó, việc lựa chọn nguồn lực mềm văn hóa phù hợp và chuyển hóa chúng thành sức mạnh mềm văn hóa cần phải được thực hiện nếu Việt Nam thực sự muốn phát huy sức mạnh mềm văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế./.
N.T.T.P
(Tạp chí Văn hóa học, số 1 (41) - 2019)
____________________
1. Joseph Nye, “Sức mạnh cứng, sức mạnh mềm và cuộc chiên tranh chống khủng bố”, David Held và Mathias Koenig-Archibugi eds., “Sức mạnh của Mỹ trong thế kỉ 21” (Polity, 2004).
2. Các ví dụ điển hình, David Leheny, “A Narrow Place to Cross Swords: Soft Power and the Politics of Japanese Popular Culture in East Asia,” in Peter Katzenstein and Takashi Shiraishi eds., Beyond Japan: The Dynamics of East Asian Regionalism (Cornell University Press, 2006); Alan Chong, “Singaporean Foreign Policy and the Asian Value Debate, 1992-2000: Reflections on an experiment in soft power,” Pacific Review, Vol. 17, No.1, March 2004, pp. 95-133; Robert Cooper, “The Goals of Diplomacy, Hard Power, and Soft Power”, in in David Held and Mathias Koenig-Archibugi eds., American Power in the 21 st Century (Polity, 2004); Young Nam Cho and Jong Ho Jeong: China’s Soft Power: Discussions, Resources, and Prospects”, Asian Survey, Vol. XLVIII, No. 3, May/June 2008; Watanabe Yasushi and David McConnell, eds., Soft Power Superpowers: Cultural and National Assets of Japan and the United States (M.E. Sharpe, 2008) .One major exception is Kondo Seiichi, “Wielding Soft Power: The Key Stages of Transmission and Reception”, in Ibid.
3. See Joseph Nye, Bound to Lead; Soft Power.
4. Về khái niệm đồng bộ và đồng điệu hóa, tham khảo Peirre Bourdieu, “Structures, Habitus, Power: Basis for a Theory of Symbolic Power”, in Nicholas Dirks et al eds.
Tài liệu tham khảo
M. Mittchell (1986), International Culltural Relation, London - Allen & Unwin.
James Huntley Grason (2002), Korea - A Religious History, Routledge Curzon.
Jian Wang (2011), Soft power in China: Public Diplomacy Through Communication, Basingstoke, Palgrave Macmillan.
Jiang Zemin (2002), Political Report to the 16th CCP Congress, November 8.
Joseph Nye (2010), American and Chinese Soft Power after the Financial Cricis, The Oasinton Quaterly, October.
Joseph S. Nye Jr. (2008), Public Diplomacy and Soft Power, The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science, 616.
Joseph S. Nye, Jr. (1990), Bound to Lead: The Changing Nature of American Power, New York: Basic Books, Inc., Publisher.
Joseph S. Nye, Jr (2004), Soft Power: The Means to Success in World Politics, New York: Public Affairs.
Geun Lee (2009), A Theory of Soft Power and Korea’s Soft Power Strategy, Korean Journal of Defense Analysis, Volume 21, Issue 2.
Nguyễn Thị Thu Phương (2014), Sức mạnh mềm văn hóa và sự lựa chọn chính sách của Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 359, tr. 14-18.
* Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài Nhà nước Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, Mã số KX.01.16/16-20 thuộc chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020: “Nghiên cứu những vấn đề trọng yếu về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế xã hội”, Mã số: KX.01/16-20.
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục